Nguồn án lệ về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản và nợ hụi (Quyết định giám đốc thẩm số 118/2023/DS-GĐT)

NGUỒN ÁN LỆ VỀ VIỆC TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN VÀ NỢ HỤI (QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 118/2023/DS-GĐT)

Quyết định giám đốc thẩm số 118/2023/DS-GĐT ngày 13/6/2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thị xã LG, tỉnh Bình Thuận về vụ án“Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và nợ hụi”.

Nội dung hủy án:

“[3] Qua xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án hôn nhân gia đình giữa bà T với ông N được giải quyết tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 192/2020/QĐST-HNGĐ ngày 16/10/2020 thấy rằng: về phần nợ chung bà T và ông N đều thống nhất không có phần nợ tiền bà M. Đồng thời, tại đơn khởi kiện (yêu cầu phản tố) ngày 03/6/2020 của ông N yêu cầu chia tài sản chung cũng thể hiện phần nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân gồm: “nợ bà Phan Thị Phương T 1.000.000.000 đồng; bà Nguyễn Thị Mỹ H 200.000.000 đồng; bà Nguyễn Thị Bé Tr 700.000.000 đồng; Ngân hàng nông nghiệp Chi nhánh LG 200.000.000 đồng” (bút lục số 18-19). Và tại Biên bản lấy lời khai ngày 03/7/2020 (trong vụ án hôn nhân gia đình) bà T trình bày:“ngoài số nợ mà ông N trình bày tôi hoàn toàn thống nhất, vợ chồng tôi còn nợ một số người như sau; Nợ bà Lê Thị T 400.000.000 đồng, bà Hồ Thị Thái Th 100.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị Bé V một khoản tiền huê tôi chưa cộng sổ nên không biết cụ thể, tôi sẽ cung cấp sau” (bút lục 69 - 70). Như vậy, tại thời điểm ông N và bà T ly hôn thì phần nợ chung của vợ chồng, các bên đều xác định không có phần nợ bà M. Do đó, bà T cho rằng số tiền nợ bà M là nợ chung của bà và ông N là không có căn cứ. Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào lời khai của bà T để xác định số nợ trên được phát sinh trong thời kỳ hôn nhân giữa bà T với ông N và buộc ông N phải có nghĩa vụ liên đới cùng với bà T trả cho bà M số tiền 200.000.000 đồng là không đúng, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của ông N.”