Nguồn án lệ về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (Quyết định giám đốc thẩm số 23/2023/DS-GĐT)
NGUỒN ÁN LỆ VỀ VIỆC TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT (QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 23/2023/DS-GĐT)
Quyết định giám đốc thẩm số 23/2023/DS-GĐT ngày 12/7/2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Q và Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Đ về vụ án “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Nội dung hủy án:
“[2]. Xét tính hợp pháp của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (Giấy chuyển nhượng đất lập ngày 14/9/2002) giữa bà Trần Thị Minh N và ông Nguyễn Văn O thì thấy:
Thời điểm lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 14/9/2002 giữa bà N và ông O thì thửa đất đang tranh chấp chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hợp đồng không được công chứng, chứng thực tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền là vi phạm quy định tại khoản 1, 2 Điều 3 Nghị định số 79/2001/NĐ-CP ngày 01/11/2001 của Chính phủ, sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 17/1999/NĐ-CP ngày 29/3/1999 của Chính phủ.
Tuy nhiên, quá trình thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 14/9/2002; ông O đã thanh toán đầy đủ số tiền 63.000.000 đồng và bà N đã giao đất cho ông O theo đúng thỏa thuận tại hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 14/9/2022; sau khi nhận diện tích đất tranh chấp, ông O sử dụng xây dựng hàng rào bao quanh và làm nhà trên toàn bộ thửa đất (nhà tạm để làm nhà kho cất giữ vật dụng và để ô tô) từ năm 2008 cho đến nay. Bên cạnh đó, việc sử dụng diện tích đất tranh chấp của ông O phù hợp với quy hoạch khu dân cư đã được phê duyệt điều chỉnh phân khu tỷ lệ 1/2000 phường A tại Quyết định số 2787/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân thành phố Đông Hà ngày 31/12/2011 và được UBND phường A, thành phố Đ xác lập hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông O tại: Biên bản về việc xác định ranh giới, nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất của hộ ông Nguyễn Văn O ngày 26/11/2010, phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng ngày 25/01/2021, phiếu lấy ý kiến khu dân cư về nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất ngày 26/6/2016, danh sách công khai kết quả kiểm tra hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất ngày 03/8/2016 và ngày 29/3/2021, sổ mục kê do UBND phường A lập năm 2019 thể hiện tên người sử dụng, quản lý đất là Nguyễn Văn O hiện trạng sử dụng đất là 90,1m2; đã thể hiện việc sử dụng đất tranh chấp của hộ ông Nguyễn Văn O ổn định, không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch. Do đó, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 14/9/2002 (Giấy chuyển nhượng đất lập ngày 14/9/2002) giữa bà Trần Thị Minh N và ông Nguyễn Văn O phải được công nhận theo quy định tại Điều 129 Bộ luật dân sự năm 2015. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất “Giấy chuyển nhượng đất” lập ngày 14/9/2002 vô hiệu là không đúng pháp luật.
Việc UBND phường A lập biên bản vi phạm hành chính ngày 19/3/2003 đối với bà N về hành vi bà N nhận chuyển nhượng đất của ông S khi chưa được cơ quan có thẩm quyền cho phép, không phải là hành vi vi phạm hành chính của ông S.
[3]. Tại đơn yêu cầu phản tố, bà N có yêu cầu “buộc ông O phải tháo dở toàn bộ nhà để xe ô tô trên đất tranh chấp” nhưng Bản án sơ thẩm và Bản án phúc thẩm không xem xét, giải quyết là chưa giải quyết hết yêu cầu của đương sự; vi phạm quyền tự định đoạt của đương sự theo quy định tại Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4]. Theo kết quả đo đạc, được xác nhận của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đông Hà thể hiện phần diện tích đất tranh chấp mà ông O đang quản lý, sử dụng 86m2, trong đó có 32m2 đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Đ. Do đó, khi giải quyết lại vụ án phải đưa ông Đ tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại khoản 4 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự.”