Đề xuất Án lệ về việc xác định chủ thể có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng trong các tranh chấp hợp đồng tín dụng
ĐỀ XUẤT ÁN LỆ VỀ VIỆC XÁC ĐỊNH CHỦ THỂ CÓ NGHĨA VỤ TRẢ NỢ CHO NGÂN HÀNG TRONG CÁC TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
Tình huống pháp lý:
Khi vay vốn với Ngân hàng thì chồng ủy quyền cho vợ vay với tư cách cá nhân, tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thể hiện vợ đứng tên là chủ hộ gia đình, tài sản thế chấp người vợ đứng tên là chủ hộ và người chồng có tham gia vào việc sử dụng tiền vay tại Ngân hàng.
Nội dung đề xuất án lệ:
“[2] Đối với trách nhiệm trả nợ:
Tòa án cấp phúc thẩm nhận định: “Theo Hợp đồng tín dụng số 01/2012/HĐ giữa Ngân hàng A Chi nhánh Gia Lai - PGD Bắc Gia Lai với Hộ kinh doanh Trần Thị T, thì bên vay tài sản là Hộ kinh doanh Trần Thị T và theo nội dung Giấy ủy quyền ngày 19/9/2012 tại Phòng Công chứng Xuân Thủy thì ông Hồ Văn H là chồng bà T, đồng thời là thành viên Hộ kinh doanh Trần Thị T, có ủy quyền cho bà Trần Thị T đại diện cho Hộ sản xuất kinh doanh Trần Thị T ký kết hợp đồng vay vốn với Ngân hàng; ngoài ra, theo Biên bản xác minh ngày 02/01/2018 của Tòa án tỉnh Gia Lai (bút lục số 187), thì gia đình hộ bà Trần Thị T còn có các con là chị Hồ Thị H1, sinh năm 1989 và anh Hồ Văn Q, sinh năm 1991 là Sỹ quan thuộc Quân đoàn 3. Ông H, chị H1 và anh Q đều là thành viên hộ gia đình với bà T, nhưng Tòa cấp sơ thẩm chưa làm rõ để đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để làm cơ sở xác định nghĩa vụ liên đới trả nợ cho Ngân hàng theo quy định tại Điều 103, Điều 288 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và quy định tại Điều 27, Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, mà chỉ tuyên một mình bà T trả nợ là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng theo quy định tại Điều 70 của Bộ luật Tố tụng dân sự” là chưa chính xác, bởi lẽ: Khoản 1 Điều 49 Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ quy định: “Hộ kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh”. Đối chiếu với Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hộ kinh doanh số 39F8-00210 do Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện la Grai, tỉnh Gia Lai cấp ngày 30/3/2012, thể hiện tại Mục 1. Tên hộ kinh doanh: Trần Thị T;... 5. Họ và tên đại diện hộ kinh doanh: Trần Thị T;...6. Danh sách cá nhân góp vốn thành lập hộ kinh doanh (không có ghi tên thành viên nào) và tại Biên bản xác minh ngày 11/5/2020, Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện G khẳng định: “Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hộ gia đình số 39F8-00210 do Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện la Grai, tỉnh Gia Lai cấp ngày 30/3/2012 thể hiện hộ kinh doanh Trần Thị T và tại danh sách mục cá nhân góp vốn thành lập hộ kinh doanh thì không thể hiện ai. Như vậy, trong trường hợp này hộ kinh doanh Trần Thị T là cá nhân bà Trần Thị T...". Từ các chứng cứ trên có cơ sở để xác định hộ kinh doanh Trần Thị T chỉ do một cá nhân là bà Trần Thị T làm chủ, do đó việc bên vay Hộ kinh doanh Trần Thị T ký kết Hợp đồng tín dụng ngày 17/9/2012 là với tư cách cá nhân bà Trần Thị T.
Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà Trần Thị T trả cho Ngân hàng A tính đến ngày 20/10/2017 là 127.788.958 đồng, trong đó nợ gốc là 75.000.000 đồng, nợ lãi vay trong hạn là 44.512.917 đồng và nợ lãi quá hạn là 8.276.041 đồng Hợp đồng tín dụng ngắn hạn số 01/2012/HĐ ngày 17/9/2012 là có căn cứ.”