NGUỒN ÁN LỆ VỀ VIỆC TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN (QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 80/2024/DS-GĐT)

Quyết định giám đốc thẩm số 80/2024/DS-GĐT ngày 14/11/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng hủy Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk về việc hợp đồng vay tài sản

Nội dung hủy án:

“[1.2]. Theo khoản 6 Điều 16 Thông tư 14/2021/TT-BLĐTBXH thì Chủ tịch hội đồng quản trị là chủ tài khoản phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về toàn bộ công tác quản lý tài chính và tài sản của nhà trường, có thể ủy quyền cho hiệu trưởng trường là đại diện chủ tài khoản. Do đó, việc bà H1 tham gia tố tụng tại Tòa án với tư cách là người đại diện theo pháp luật của trường T1 khi đã hết nhiệm kỳ và thừa nhận trường có nợ vợ chồng ông Từ Huy H số tiền 7.000.000.000 đồng và đồng ý trả nợ cho vợ chồng ông H mà chưa được Chủ tịch Hội đồng quản trị ủy quyền là không đúng nhiệm vụ, quyền hạn. Tòa án xác định người đại diện theo pháp luật không đúng làm cho trường T1 không được tham gia tố tụng, không bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình, là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

[2] Về nội dung:

[2.2]. Mặt khác, tại Bảng cân đối kế toán niên độ tài chính năm 2016 (bl: 41) thể hiện trường T1 có nợ vay ngắn hạn của năm trước là 2.200.000.000 đồng và dài hạn là 2.978.125.000 đồng, không có khoản nợ nào là phù hợp với tổng số tiền đã vay của ông H từ năm 2016 trở về trước. Tại Báo cáo tài chính và quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2023 (do trường cung cấp kèm theo đơn đề nghị giám đốc thẩm) thể hiện nợ vay và nợ thuê tài chính ngắn, dài hạn là 6.258.000.000 đồng, cũng không có khoản nợ vay nào là 7.000.000.000 đồng. Do đó, chưa có chứng cứ chứng minh sau khi nhận tiền từ ông H, bà H1 đã nhập số tiền nêu trên vào tài khoản của trường và sử dụng cho trường, được quyết toán tài chính hàng năm như bà H1 trình bày.

[2.3]. Ngoài ra, tại Biên bản làm việc chuyển nhượng cổ phần trường T1 ngày 17/5/2023 (do trường cung cấp kèm theo đơn đề nghị giám đốc thẩm) thể hiện bà Từ Thị Hồng H1, ông Nguyễn Đình H2, ông Trần Thế H3 là bên A “Chịu hoàn toàn trách nhiệm các khoản nợ liên quan đến trường T1 trước đây; cam kết với bên B rằng nếu có phát sinh thì trách nhiệm thuộc về bên A”. Khi giải quyết lại vụ án, Tòa án cần xác minh làm rõ, việc chuyển giao nghĩa vụ trả nợ giữa trường T1 cho các cá nhân là bà H1, ông H2, ông H3 đã được thông báo đến các chủ nợ chưa, các chủ nợ có ý kiến gì để xác định thỏa thuận này có hợp pháp hay không, từ đó xác định nghĩa vụ trả nợ các khoản nợ phát sinh trước khi chuyển nhượng là của trường hay của các cá nhân nêu trên.

[2.4]. Như vậy, chưa có căn cứ xác định khoản vay 7.000.000.000 đồng là do cá nhân bà H1 vay hay trường T1 vay, trường hợp là trường T1 vay thì nghĩa vụ trả nợ là của trường T1 hay của các cá nhân là bà H1, ông H2, ông H3 như thỏa thuận tại Biên bản thỏa thuận chuyển nhượng cổ phần trường ngày 17/5/2023.

[3]. Từ những chứng cứ, phân tích và nhận định trên, thấy rằng Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng, xác định sai tư cách người tham gia tố tụng dẫn đến chưa lấy lời khai, xác minh làm rõ các nội dung liên quan đến khoản nợ mà đã công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, buộc trường T1 phải trả cho vợ chồng ông Từ Huy H, bà Võ Thị L số tiền 7.000.000.000 đồng là chưa đủ cơ sở. Do đó, kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử giám đốc thẩm chấp nhận kháng nghị hủy Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 21/2024/QĐST-DS ngày 07/02/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk; chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm đúng quy định của pháp luật.”