NGUỒN ÁN LỆ VỀ VIỆC TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, YÊU CẦU HUỶ VĂN BẢN THOẢ THUẬN VỀ HỢP TÁC KINH DOANH VÀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN  (QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 73/2024/DS-GĐT)

Quyết định giám đốc thẩm số 73/2024/DS-GĐT ngày 21/9/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng huỷ toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk và Bản án dân sự sơ thẩm của Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, yêu cầu huỷ văn bản thoả thuận về hợp tác kinh doanh và tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

Nội dung hủy án:

“[1]. Về tố tụng:

Tại Đơn khởi kiện, khởi kiện bổ sung và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn (ông Nguyễn N và bà Nguyễn Thị Ly N1) yêu cầu hủy các hợp đồng chuyển nhượng và hủy biến động tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với ông Đinh Văn X, bà Hoàng Thị Kiều N2; hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Vũ Lê Phi V. Tuy nhiên, Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột thụ lý giải quyết là không đúng thẩm quyền được quy định tại Điều 34 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính. Nguyên đơn yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Vũ Lê Phi V, nhưng Tòa án không đưa cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận vào tham gia tố tụng là thiếu sót. Không có lời khai nào thể hiện vợ chồng ông Nguyễn N rút yêu cầu khởi kiện và tại Biên bản phiên tòa sơ thẩm cũng thể hiện ông N rút yêu cầu khởi kiện đối với việc hủy Giấy chứng nhận mang tên ông Vũ Lê Phi V, nhưng Tòa án quyết định đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn (ông Nguyễn N và bà Nguyễn Thị Ly N1) về việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Hoàng Thị Kiều N2; ông Vũ Lê Phi V là không đúng.

[2]. Về nội dung:

Tòa án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, giữa ông Nguyễn N và ông Đinh Văn X, cũng như Văn bản thỏa thuận kinh doanh giữa các bên, vì cho rằng đây là hợp đồng giả tạo được quy định tại Điều 124 của Bộ luật Dân sự. Tuy nhiên, sau khi Tòa án sơ thẩm thụ lý vụ án (ngày 18/10/2018), thì ngày 18/12/2018, giữa ông Đinh Văn X với bà Hoàng Thị Kiều N2 thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và ngày 26/12/2018, bà Hoàng Thị Kiều N2 chuyển nhượng quyền sử dụng đất này cho ông Vũ Lê Phi V. Việc chuyển nhượng đất giữa ông X với bà N2; giữa bà N2 với ông V đang trong giai đoạn có tranh chấp là vi phạm quy định tại điểm b khoản 1 Điều 188 của Luật Đất đai. Việc chuyển nhượng này thể hiện hành vi tẩu tán tài sản, nhưng Tòa án lại áp dụng Điều 133 của Bộ luật Dân sự cho rằng hai hợp đồng chuyển nhượng này có hiệu lực pháp luật là không đúng, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Hơn nữa, phần nhận định của bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm có mâu thuẫn với lời khai của các đương sự; xem xét, đánh giá không khách quan lời khai của các đương sự, các sự kiện pháp lý về ngày vay tiền trả cho Ngân hàng ngày 29/8/2018; ngày thực hiện Hợp đồng vay tiền giữa ông N và ông X ngày 04/9/2018; giữa Giấy nhận tiền 2.000.000.000 đồng của ông X ngày 04/9/2018 và Văn bản thỏa thỏa thuận kinh doanh, từ đó không làm rõ được bản chất của sự việc, chưa bảo đảm được lẽ công bằng và tính khách quan, toàn diện trong quá trình giải quyết vụ án.

[3]. Như vậy, quá trình giải quyết vụ án, cả Tòa án cấp phúc thẩm và Tòa án cấp sơ thẩm đều có quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Do đó, để giải quyết vụ án đúng pháp luật, cần hủy cả hai bản án sơ thẩm và phúc thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm theo đúng quy định của pháp luật.”