NGUỒN ÁN LỆ VỀ VIỆC TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT (QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 22/2023/DS-GĐT NGÀY 22/4/2023 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI)

Quyết định giám đốc thẩm số 22/2023/DS-GĐT ngày 22/4/2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội hủy Bản án dân sự phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai và Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai về vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn là ông Nguyễn Trọng T (tên gọi khác: Nguyễn Văn T) với bị đơn là bà Chảo Thị Ph.

Nội dung hủy án:

“[2] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm xác định thửa đất số 63 của gia đình ông T không chồng lấn với diện tích đất cụ Lù Thị P được cấp tại thửa số 64, còn Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng vị trí, diện tích thửa đất tranh chấp do ông T xác định tại thực địa nằm hoàn toàn trong diện tích 200m2 đất mà cụ P được công nhận quyền sử dụng theo Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2016/DS-ST ngày 20/9/2016 của Tòa án nhân dân huyện Sa Pa đã có hiệu lực pháp luật để bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chưa đủ cơ sở vững chắc. Trong vụ án này, Tòa án cần thu thập các tài liệu, chứng cứ để làm rõ vị trí, tọa độ, diện tích của thửa đất số 63 và thửa đất số 64, tờ bản đồ số 17T; ý kiến của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với hai thửa đất nêu trên. Từ đó xác định có việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chồng lấn giữa hai thửa đất trên thực địa hay không. Trường hợp có căn cứ xác định việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trùng vị trí đất cho hai người khác nhau thì cần làm rõ ý kiến của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc cấp trùng thửa đất để xem xét bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự. Trường hợp xác định không có việc cấp trùng vị trí đất cho gia đình ông T và gia đình cụ P thì cần xác định rõ vị trí, diện tích của thửa đất mà ông T đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Quyết định số 479/QĐ-UB ngày 07/12/1998 của UBND huyện S để làm căn cứ xem xét, giải quyết vụ án khách quan, toàn diện.”