Bản án hình sự phúc thẩm số 346/2025/HS-PT ngày 15/5/2026 của Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử về các tội “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí” và tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” đối với các bị cáo Huỳnh Văn T, Trần Thị Diễm T2 và Võ Thị Thu H do có kháng cáo của các bị cáo và bị hại
Nội dung hủy án:
(i) Tuy vậy, căn cứ lịch sử giao dịch mua bán gạo giữa Công ty T7 và công ty L4 diễn ra từ năm 2011 đến năm 2013 thể hiện: Cũng với các hành vi nêu trên của các lãnh đạo, nhân viên có liên quan trong giao dịch đã ký rất nhiều Hợp đồng mua bán gạo với Công ty T7 mà tổng giá trị lên tới hàng ngàn tỷ đồng. Hầu hết các hợp đồng đều thực hiện thành công nhưng chỉ có 15 hợp đồng (bị truy cứu trách nhiệm hình sự) với tổng giá trị hàng chưa thanh toán (làm tròn) là 146 tỷ. Do vậy, việc quy kết các hành vi sai nêu trên là nguyên nhân dẫn đến việc không thu hồi được số tiền 146 tỷ là chưa phù hợp với thực tế khách quan. Nghĩa là cơ quan điều tra chưa chứng minh được mối quan hệ nhân quả giữa việc làm sai nêu trong kết luận điều tra là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hậu quả thất thoát tài sản.
(ii) Hơn nữa, theo kết quả điều tra thể hiện lời bào chữa của bị cáo H nêu “Bị cáo H cho rằng tất cả các hợp đồng mua bán gạo giữa Công ty T7 với Công ty L4 là hợp đồng mua bán có thật, nhằm mục đích mua bán gạo. Sở dĩ có việc Công ty T7 không thanh toán tiền hàng cũng không giao gạo cho Công ty L4 theo 15 hợp đồng nêu trên là do có việc bị cáo T và ông D có đến gặp bị cáo H kêu mua bán sắn lát với Công ty T10, lãi chia đôi, các giấy tờ hợp đồng sẽ do phía Công ty lương thực thực hiện, việc bàn bạc này chỉ nói miệng mà không có văn bản thỏa thuận, Công ty T7 đã chuyển cho Công ty T10 120 tỷ đồng để thực hiện hợp đồng số 01/HĐKT.2013 giữa Công ty T7 và Công ty T10, mục đích để mua bán sắn lát, chính vì thế nên có việc cấn trừ nợ 99 tỷ đồng do ông D ký ngày 17/01/2014 với Công ty T10 và Công ty T7 cùng Công ty L4. Số tiền còn lại hơn 46 tỷ đồng thì bị cáo đã đưa tài sản để cấn trừ nợ do đó bị cáo không phạm tội như cáo trạng đã nêu.” Trong hồ sơ vụ án có các chứng cứ chứng minh cho lời khai trên (Bút lục 100 – 101, 2098 – 2099, 2934) xác nhận của ông D (giác đốc công ty L4 khi còn sống) và bà Tuyết N1 (đại diện công ty T10) về các nội dung trên. Vì vậy nếu có thất thoát tài sản thì phải do chuỗi hành vi sai trái này của ông D mới là nguyên nhân trực tiếp nhưng chưa được đánh giá xem xét là thiếu sót. Hay nói cách khác việc xác định hành vi sai trái nào và do ai làm là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thất thoát tiền của công ty L4 chưa được là rõ. Dẫn đến việc xác định thiếu người tham gia tố tụng là công ty T10, gây khó khăn cho việc truy thu dòng tiền bị thất thoát của Công ty L4.
(iii) Đối với nhóm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiến đoạt tài sản”.
Cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm xác định thủ đoạn của bị cáo H là “Từ tháng 7 năm 2013 đến tháng 10 năm 2013 lợi dụng sự tin tưởng của Công ty L4 bị cáo H đã liên tục ký nhiều hợp đồng mua bán gạo và ứng tiền sau đó không giao hàng theo thỏa thuận, dẫn đến nợ 15 hợp đồng với số tiền nợ là 146.252.668.357 đồng”. Với thủ đoạn thông qua các giao dịch dân sự, Cơ quan tố tụng cấp sơ thẩm xác định hành vi gian dối của bị cáo H như sau “bị cáo H dùng tiền ứng của Công ty L4 sai mục đích nhưng bị cáo không báo cho Công ty L4 biết, thể hiện sự gian dối của bị cáo”. Tuy vậy, trong 15 Hợp đồng nêu trên cũng như toàn bộ các hợp đồng trước đó giữa hai bên đều không thỏa thuận nội dung nghĩa vụ của bị cáo H phải báo cáo với công ty L4 các nội dung trên. Do đó hành vi nêu trên không phải là hành vi gian dối của bị cáo để nhằm chiếm đoạt tài sản.
(iv) Xét về việc áp dụng pháp luật: Cơ quan tố tụng cấp sơ thẩm đã xác định hành vi phạm tội của bị cáo H đã thực hiện trong khoảng thời gian năm 2013 cho đến năn 2014. Do vậy, việc xác định có hay không hành vi phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” của bị cáo phải căn cứ quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 chứ không thể căn cứ quy định Bộ luật hình sự năm 2015 (có hiệu lực năm 2018). Vì thế, việc áp dụng Bộ luật hình sự năm 2015 (có hiệu lực năm 2018) để xác định hành vi “Công ty T7 có tài sản nhưng không thanh toán tiền hàng, cũng không giao hàng cho Công ty L4 thể hiện rõ ý thức chiếm đoạt của Công ty T7.” Là hành vi phạm tội của bị cáo H là chưa đúng.
(v) Hơn nữa như đã phân tích phần tội “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí” tại mục [3.1] nêu trên thể hiện, trong hồ sơ vụ án có các chứng cứ chứng minh cho lời khai bào chữa của bị cáo H (Bút lục 100 – 101, 3001 – 3003, 1986) xác nhận của ông D (Giám đốc công ty L4 khi còn sống) và bà Tuyết N1 (đại diện công ty T10) về các nội dung trên nhưng chưa được đánh giá xem xét là thiếu sót. Ngoài ra, để chứng minh cho nội dung này thì tại trang 15 của bản án sơ thẩm cũng đã nêu về nội dung có liên quan đến Hợp đồng kinh tế số 01/HĐKT/2013 ngày 27/02/2013: “Ngày 17/02/2014 và ngày 03/03/2014, Công ty L4 tiếp tục ban hành văn bản yêu cầu 03 Công ty trên trả hàng gạo hoặc trả tiền thời gian cụ thể và xác nhận bằng văn bản về số nợ nhưng Công ty T7 vẫn không thực hiện. Từ tháng 5/2014 đến tháng 6/2014, bà Nguyễn Thị Tuyết N1 có trả cho bị cáo H số tiền mua bán mì lát theo hợp đồng kinh tế số 01/HĐKT/2013 ngày 27/02/2013 là 2.205.000.000 đồng nhưng bị cáo H không trả cho Công ty L4”. Trên cơ sở những chứng cứ này cho thấy, phần nhận định của bản án sơ thẩm tại trang 26 cho rằng thông qua nội dung lời đối chất của đại diện Công ty T10 nêu “không liên quan đến Hợp đồng mua bán gạo” để phủ nhận thỏa thuận của các bên đối với Hợp đồng mua bán mì lát số 01/HĐKT/2013 ngày 27/02/2013 là không khách quan. Từ những căn cứ nêu trên thể hiện sự tồn tại của giao dịch mì lát giữa ba bên mà bị cáo H khai này là có thật, dù là sai hay đúng thì cũng là sự thật khách quan cần được đánh giá trách nhiện của người thỏa thuận dẫn đến thất thoát tài sản và có biện pháp thu hồi tài sản thất thoát. Việc phủ nhận sự thật khách quan để quy kết bị cáo H đưa ra lý do không có thực là hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản là không đúng.