Nội dung hủy án 

(i) Các đối tương nêu trên đã thực hiện hành vi gian dối, giúp sức tích cực cho các bị cáo trong việc chiếm đoạt tài sản của bị hại. Nếu không có sự tham gia giúp sức của các đối tương này thì hơp đồng sẽ không đươc duyệt, các bị cáo không thể chiếm đoạt đươc tiền của các công ty tài chính. Do đó, ba nhóm đối tương trên là mắc xích quan trọng trong vụ án, hành vi của họ mang tính chất quyết định đến việc bị cáo có chiếm đoạt đươc tài sản hay không. Quá trình điều tra, các đối tương trên đều khai nhận bản thân nhận đươc hành vi của mình không đúng pháp luật, không đúng quy trình mua hàng trả góp, biết thực tế không có việc ký hơp đồng vay để mua hàng trả góp mà thực chất là vay để bị cáo P2, Đ lấy tiền mặt và không nhận hàng, nhưng vì vụ lơi mà các đối tương này đã nhiều lần thực hiện hành vi giúp sức như nêu trên, bỏ mặc và chấp nhận hậu quả xảy ra. Do đó, hành vi của 03 nhóm đối tương nêu trên có dấu hiệu đồng phạm với các bị cáo Đ, P2 về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Cấp sơ thẩm nhận định cho rằng quá trình điều tra, các đối tương trên không biết việc bị cáo Đ và P2 cấu kết với nhau nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của bị hại; đồng thời, hầu hết đã nộp lại số tiền đã đươc hưởng lơi, riêng nhóm chủ cửa hàng điện thoại đều đồng ý bồi thường cho Công ty T7 theo nội dung hơp đồng hơp tác kinh doanh đã ký kết nên chưa đủ căn cứ xác định các đối tương trên có đồng phạm với Đ và P2, là chưa đủ cơ sở vì như phân tích trên các đối tương này nhận thức đươc hành vi giúp sức của mình và chấp nhận hậu quả xảy ra, tội phạm đã hoàn thành từ thời điểm các bị cáo chiếm đoạt tài sản của bị hại, việc hoàn trả số tiền hưởng lơi chi là khắc phục hậu quả. Cấp sơ thẩm không tiến hành điều tra, giải quyết theo quy định của pháp luật đối với ba nhóm đối tương trên là có dấu hiệu bỏ lọt người phạm tội và giải quyết vụ án chưa triệt để.

(ii) Về hình phạt, bị cáo Đ chi có 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và có 01 tình tiết tặng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. bị cáo phạm tội với số tiền chiếm đoạt rất lớn, gấp nhiều lần số tiền định khung hình phạt quy định tại khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự, bị cáo là người chủ mưu, lôi kéo nhiều người tham gia giúp sức, thể hiện thái độ xem thường pháp luật, gây mất trật tự trị an tại địa phương, thuộc trường hơp cần phải nghiêm trị nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chi xử phạt bị cáo 15 năm tù là nhẹ, chưa tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội và hậu quả do hành vi của bị cáo gây ra.

(iii) Đối với bị cáo P2, Tòa án cấp sơ thẩm xác định 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo 10 năm tù, dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đươc áp dụng. Tuy nhiên, bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, bị cáo phạm tội với vai trò rất tích cực, số tiền chiếm đoạt rất lớn, nên việc Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để hạ khung hình phạt đối với bị cáo là chưa đúng quy định.

(iv) Ngoài ra, đây là vụ án đồng phạm, nhiều người tham gia, cùng nhau thực hiện tội phạm nhiều lần theo một kế hoạch đã đươc bị cáo Đ và P2 vạch ra cụ thể từ trước, có sự phân công công việc, vai trò cụ thể, rõ ràng, trong đó mỗi người thực hiện một hoặc một số hành vi và chịu sự điều khiển của các bị cáo Đ, P2. Như vậy, giữa những người phạm tội có sự câu kết chặt chẽ nên thuộc trường hơp phạm tội có tổ chức, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm a khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết này khi lương hình đối với các bị cáo là thiếu sót.

(v) Về trách nhiệm dân sự: Sau khi chiếm đoạt đươc tiền của những người bị hại, bị cáo P2 đã trả thù lao cho Nguyễn Thị Hoài T3, Lâm Hoài B và Đỗ Thị Tuyết M2 (Đỗ Tuyết M2) tổng cộng 58.600.000 đồng. Như vậy, đây là tiền tang vật của vụ án cần phải thu hồi để hoàn trả cho các bị hại. Tuy nhiên, bản án của Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc 3 người có quyền lơi, nghĩa vụ liên quan là Nguyễn Thị Hoài T3, Lâm Hoài B và Đỗ Thị Tuyết M2 (Đỗ Tuyết M2) hoàn trả số tiền trên cho bị cáo Trần Nguyễn Duy P là không chính xác.