Thông báo rút kinh nghiệm số 85/TB-VKS-DS ngày 31/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng về kiểm sát việc giải quyết án dân sự về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng thuê tài sản, tuyên bố văn bản khai nhận di sản thừa kế vô hiệu và chia di sản thừa kế

THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM SỐ 85/TB-VKS-DS NGÀY 31/10/2024 CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG VỀ KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT ÁN DÂN SỰ VỀ VIỆC TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, HỢP ĐỒNG THUÊ TÀI SẢN, TUYÊN BỐ VĂN BẢN KHAI NHẬN DI SẢN THỪA KẾ VÔ HIỆU VÀ CHIA DI SẢN THỪA KẾ

Nội dung vấn đề cần rút kinh nghiệm:

Thứ nhất: Tại đơn khởi kiện, khởi kiện bổ sung, biên bản lấy lời khai của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H1 và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm các bà Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị Thu H4, Nguyễn Thị Th và anh Nguyễn Mậu H8, Nguyễn Thị Ngọc H5, Nguyễn Thị Minh H3, Nguyễn Thị H2, Trần Thị Như H10 và anh Nguyễn Mậu Tr vào năm 2019 các đương sự đều yêu cầu chia thừa kế đối với thửa đất số 102 tờ bản đồ số 24 xã HT diện tích 1.037,9m² là di sản của cụ Giàu và cụ Hương; đối với các diện tích đất vợ chồng ông H9, bà V đã bán và người mua được cấp giấy CNQSDĐ, các ông bà không tranh chấp. Từ năm 2020 đến năm 2023 các đương sự là người liên quan không có bản lời khai nào khác; riêng văn bản trình bày không ghi ngày tháng của năm 2020 ký tên bà Nguyễn Thị T và văn bản trình bày ký tên bà Trần Thị Như H10 có nội dung khởi kiện thay đổi giống nhau là yêu cầu chia giá trị bằng tiền của các thửa đã chuyển nhượng cho người khác.

Tòa án lập Biên bản hoà giải và Biên bản về việc kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ cùng ngày 10/7/2020, thể hiện nội dung tại 02 biên bản khác nhau. Biên bản hoà giải có nội dung: Đương sự không yêu cầu huỷ các giấy CNQSDĐ đã cấp đối với các thửa đất số 81, 104, 269 cùng tờ bản đồ số 24; yêu cầu chia giá trị các thửa đất này theo kết quả thẩm định giá và bị đơn là người đã nhận tiền chuyển nhượng phải thanh toán lại giá trị dược chia. Nhưng tại Biên bản về việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ thể hiện: Đương sự chỉ yêu cầu chia thừa kế đối với thửa đất số 102, tờ bản đồ số 24; đối với các diện tích đất ông H9 và bả V đã chuyển nhượng cho người khác và đã được cấp giấy chứng nhận, không tranh chấp là vi phạm quy định tại Điều 210, 211 Bộ luật Tố tụng dân sự,

Tại hồ sơ vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm ngày 27/10 và ngày 02/11/2023 chỉ có mặt bà Nguyễn Thị H1, bà Nguyễn Thị Th, anh Nguyễn Mậu H8, bà Nguyễn Thị Minh H3 và người bảo vệ quyền lợi ích nguyên đơn; Bị đơn bà Nguyễn Thị Kim V và anh Nguyễn Mậu Quốc CI, anh Nguyễn Mậu C2 vắng mặt, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác vắng mặt. Nhưng. Tòa án cấp sơ thẩm vẫn quyết định tuyên bố võ hiệu đối với các hợp đồng chuyển nhượng quyền sửdụng đất và hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, biến động phát sinh do ông Nguyễn Mậu H9 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Kim V thực hiện mà không được sự đồng ý của những người đồng thừa kế của cụ G, cụ H và yêu cầu chia di sản thừa kế, là vượt quá phạm vì yêu cầu và không đúng nội dung khởi kiện, ý chí của những người liên quan theo quy định tại Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Thứ hai: Quá trình giải quyết vụ án phía bị đơn bà Nguyễn Thị Kim V chỉ có văn bản trình bày ý kiến ngày 02/10/2019. Tại các chứng cứ nộp kèm theo đơn kháng cáo thể hiện bà Nguyễn Thị Kim V là người khuyết tật, đang đều trị bệnh động kinh thuộc người yếu thế trong xã hội chưa thực hiện đầy đủ quyền của đương sự quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Thứ ba: Biên bản ghi lời khai của ông Trần Văn Th - Phó Chủ tịch UBND xã HT thể hiện nội dung bà Nguyễn Thị H1 và vợ chồng ông Nguyễn Mậu H9 bà Nguyễn Thị Kim V đã tranh chấp liên thửa đất cụ G và cụ H nêu trên vào năm 2003. Bà Nguyễn Thị Kim V đã chia cho bà H1 01 phần diện tích thuộc thửa đất số 342 tờ bản đồ số 24. Sau đó, bà H1 đã chuyển nhượng cho bà Huỳnh Thị C3; bà C3 chuyển nhượng lại cho những người khác và người nhận sau cùng là bả Nguyễn Thị Xuân Ph; phù hợp với lời khai của bà V về việc tranh chấp với bà H1 và được UBND xã giải quyết. Mặc khác, vào năm 2006, anh Nguyễn Mậu H8 (con ông Nguyễn Mậu Hoành) tranh chấp với ông H9 và bà V được UBND xã HT hoà giải; ông H9 và bà V đã đồng ý chia cho ông H8 một diện tích đất. Hiện nay, ông H8 đã xây dựng nhà ở và chưa được cấp giấy chứng nhận thuộc một phần thửa đất số 102, tờ bản đồ số 24.

Các lời khai phù hợp với nội dung thay đổi của Giấy CNQSDĐ số 02172 cấp ngày 07/9/2000 của UBND huyện NH cấp cho hộ ông Nguyễn Mậu H9 thừa đất số 342 tờ bản đồ số 4 có nội dung biến động ngày 11/02/2004, ông Nguyễn Mậu H9 chuyển nhượng 441m² đất vườn cho bà Huỳnh Thị C3; phù hợp với thực tế ông H8 đang quản lý sử dụng một phần diện tích đất tranh chấp. Về các nội dung này chưa được Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá, xem xét nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của các bên đương sự.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm chưa đánh giá, xem xét đầy đủ việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông Nguyễn Mậu H9 và những người liên quan chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụngs đất, quá trình sử dụng, xây dựng và sinh sống ổn định của những người liên quan này.

Từ những vi phạm được nêu trên, Bản án dân sự phúc thầm đã huỷ bản án dân sự sơ thẩm để giải quyết lại.

Trên đây là vi phạm của Toà án nhân dân tỉnh Q trong việc giải quyết vụ án dân sự mà Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Q không phát hiện kịp thời để thực hiện quyền kháng nghị hoặc báo cáo đề nghị Viện kiểm sát cấp cao tại Đà Nẵng khảng nghị. Để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng thông báo đến các đơn vị trong khu vực Miền Trung và Tây Nguyên cùng tham khảo và rút kinh nghiệm./.