THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM SỐ 79/TB-VKS-DS NGÀY 23/10/2024 CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG VỀ KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ “TRANH CHẤP ĐÒI LẠI TÀI SẢN CHO Ở NHỜ”

Nội dung vấn đề cần rút kinh nghiệm:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có cơ sở để xác định:

1. Vi phạm về tố tụng:

Nguyên đơn, người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Phước Hương L và bà Phạm Thị L1 phải trả lại thửa đất số hiệu C135, diện tích 1.340 m² nay là thửa đất số 201 và thửa đất số 284, tờ bản đồ số 11 tại số 243 Trần Phú, phường Tr, thành phố H, tỉnh T do là của ông Tôn Thất B (là bố của ông T) được Ty Điền địa tỉnh T cấp Trích lục địa bộ số hiệu C128 ngày 09/9/1964; được cải nghiệp di sản theo Tông chỉ lập ngày 25/9/1070 đứng tên bà Phan Thị B1 (mẹ ông Tâm) cùng các con là Tôn Thất T, Phạm Thị Th (vợ ông T), Tôn Nữ Thị Th1 (chị của ông T). Theo Bản trích lục địa bộ, do Ty Điền địa tỉnh T (chế độ cũ) giao cho cụ Tôn Thất B ngày 09/9/1964, tại Mục các điền chủ kế tiếp gồm: (1) cụ Phan Thị B1 và các con (2) Tôn Thất T, (3) Phạm Thị Th và (4) Tôn Nữ Thị Th1. Như vậy, tài sản là quyền sử dụng diện tích 1.340 m² đất mà nguyên đơn khởi kiện thuộc quyền sử dụng của 04 người như đã nêu trên. Tại Tòa án cấp sơ thẩm, bị đơn là bà Nguyễn Phước Hương L và Luật sư của bà L đề nghị Toà án xác định và đưa những người thừa kế của bà Phan Thị B1 và bà Tôn Nữ Lệ Thi (là những người đứng tên trong Trích lục địa bộ C135 đã chết) vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tại Bản khai bổ sung, Tờ khai bổ sung chứng cứ (các bút lục số 588, số 608), đại diện nguyên đơn cung cấp cho Tòa án những người thừa kế tài sản của cụ Phan Thị B1 và bà Tôn Nữ Lệ Th1, gồm: ông Tôn Thất C (con trai đầu của cụ B1 - đã chết và ông C có 04 người con gồm: ông Tôn Thất K, ông Tôn Thất K1, ông Tôn Thất Kh và bà Tôn Nữ Ái L2); ông Tôn Thất T2 (con trai cụ B1 - đã chết và ông T2 có vợ là bà Nguyễn Thị H3, con là Tôn Nữ Ái Tr1) và bà Tôn Nữ Lệ Th3 (con gái cụ B1 - đã chết và bà Th3 có con là Đinh Lệ Mỹ). Ông Tôn Thất Th2 khai bà H3 đã chết và không cung cấp được họ tên, địa chỉ của những người thừa kế của bà H3 và những người thừa kế của cụ B1, bà Th3. Theo quy định tại Điều 70 của Bộ luật Tố tụng dân sự và hướng dẫn tại điểm c khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, thì nghĩa vụ cung cấp thông tin, địa chỉ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là của nguyên đơn. Trường hợp, không cung cấp được, thì có quyền yêu cầu Tòa án thu thập, xác minh. Tuy nhiên, khi nguyên đơn không cung cấp được thông tin, Tòa án cấp sơ thẩm cũng không thu thập, xác minh để đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, mà còn nhận định “Quyền và nghĩa vụ của họ sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác nếu có” là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định bà Nguyễn Thị H3 là vợ ông Tôn Thất T2 và là con dâu cụ Phan Thị B1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là đúng, nhưng chưa đầy đủ; đồng thời, trong hồ sơ vụ án chỉ có duy nhất 01 lời khai của bà H3 (bút lục số 605) có nội dung xin xét xử vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, mà không kèm theo bất cứ tài liệu nào chứng minh nhân thân của bà H3. Xét thấy, theo sự thừa nhận của các bên đương sự, thì bà H3 là người Việt Nam định cư ở Hoa Kỳ, nhưng bản tự khai nêu trên của của bà H3 không được hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định tại Điều 478 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

2. Vi phạm về nội dung:

Phần đất tranh chấp có 21 ngôi mộ, theo trình bày của phía nguyên đơn đây là mộ của dòng tộc. Tại Văn bản số 319/UBND-ĐCXD "V/v cung cấp thông tin, tài liệu” ngày 08/11/2021, Ủy ban nhân dân phường Tr, thành phố H cung cấp trong số điện tích đất tranh chấp có một phần diện tích đất là loại đất: Nghĩa địa, không có người kê khai đăng ký tại Bản đồ 299 năm 1984. Tòa án cấp sơ thẩm chưa xác minh làm rõ phần diện tích đất có các phần mộ do đương sự trình bày hiện đang do ai quản lý?, bị đơn và những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn (bà Phạm Thị L1) không thừa nhận là người đang quản lý, nhưng lại tuyên chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn để buộc những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Phạm Thị L1, gồm có ông Nguyễn Thanh H4, ông Nguyễn Trung Tr, bà Nguyễn Phước Hương Gi, ông Nguyễn Thanh Ch, ông Nguyễn Thanh H2, bà Phan Thị Mỹ Y và chị Nguyễn Phước Hải Chì “phải trả cho những người thừa kế của ông Tôn Thất T, bà Phạm Thị Th, bà Phan Thị B1 và bà Tôn Nữ Thị Th1 diện tích đất 709,2 m² tại thửa đất số 284 (trích từ thửa 200), tờ bản đồ số 11 tại số 243 Trần Phú, phường Tr, thành phố H, tỉnh T trên đất có mồ mả” là không đúng quy định của pháp luật về đất đai và mâu thuẫn với chính nhận định của Tòa án cấp sơ thẩm: “... Tòa án không có căn cứ để đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (người kế thừa quyền, nghĩa vụ tổ của bà Phan Thị B1, bà Tôn Nữ Lệ Th3)."

Về việc quản lý, sử dụng đất của bị đơn (bà Nguyễn Phước Hương L): Diện tích 1.214,2m² tại thửa đất số 47, tờ bản đồ số 11 (theo Bản đồ 202), theo Bản đồ GIS (2007-2009) là thửa 200 và thửa 201, tờ bản đồ số 11 tại số 243 Trần Phú, phường Tr, thành phố H; trong đó, bà Nguyễn Phước Hương L. đang sử dụng 505m² (615m² - 110m²), bà Phạm Thị L1 đăng ký sử dụng diện tích 709,2 m² là nằm trong thửa đất có Trích lục địa bộ ký hiệu C135 ngày 25/9/1970 đứng tên bà Phan Thị B1, ông Tôn Thất T, bà Phạm Thị Th và bà Tôn Nữ Thị Thì do vợ chồng ông Tôn Thất T và bà Phạm Thị B1 quản lý, sử dụng. Năm 1990, cả gia đình ông T xuất cảnh sang Hoa Kỳ, việc xuất cảnh của gia đình ông T là hợp pháp (theo Thông báo số 724/XC ngày 05/3/1990 của Cục Quản lý Xuất nhập cảnh Bộ Nội vụ). Như vậy, phần đất tranh chấp thuộc diện “vắng chủ” nhưng quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chưa xuất trình được tài liệu, chứng cứ để chứng minh việc bị đơn được nguyên đơn cho ở nhờ. Đồng thời, tại Quyết định số 04/UB/QĐ ngày 05/01/1984, Ủy ban nhân dân thành phố H cho phép ông Nguyễn Trung Tr được phép sửa chữa nhà với diện tích 49m² (trên diện tích đất tranh chấp) và sau đó, tại Giấy xác nhận hiện trạng sử dụng đất số 85/NLN ngày 13/9/1993 của Phòng Nông Lâm Ngư thành phố H có nội dung: “Chúng tôi đã tiến hành thẩm tra thực địa và kết hợp xem xét hồ sơ tài liệu lưu trữ tại Phòng Nông Lâm Ngư thành phố, kết quả như sau: 1). Nguồn gốc sử dụng đất: Đất thổ cư kèm theo nhà. Nguồn gốc do ông Tôn Thất Khl tạo lập, sau đó con trai là ông Nguyễn Phước T1 thừa kế sử dụng. Năm 1983, ông T1 cắt cho con trai là Nguyễn Trung Tr 500m² để xây dựng nhà ở. Ngày 05/01/1984, Ủy ban nhân dân thành phố ký Quyết định số 04/UBND cho phép ông Nguyễn Trung Tr sửa chữa nhà.... 4) Kết luận và đề nghị: Diện tích đất 500m² hiện do đơn vị, ông bà Nguyễn Trung Tr đang sử dụng là hợp pháp”. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định phần diện tích đất 500m² đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác nhận về nguồn gốc và quá trình quản lý, sử dụng cho ông Nguyễn Trung Tr từ thời cụ Tôn Thất Kh1. Sau đó, cụ Khi cho ông Nguyễn Phước T1 rồi ông T1 cho con trai là ông Nguyễn Trung Tr, tiếp đó ông Tr chuyển nhượng cho bị đơn là bà Nguyễn Phước Hương L; việc sử dụng đất liên tục từ trước thời điểm 1984 cho đến khi xảy ra tranh chấp (hơn 30 năm) mà không có ai có ý kiến khiếu nại hay tranh chấp. Quá trình sử dụng đất, bị đơn có kê khai và thực hiện đúng, đủ nghĩa vụ thuế với Nhà nước. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định diện tích đất 500m² nêu trên thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn là không có căn cứ.

Như vây, Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2023/DS-ST ngày 20/3/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh T có vi phạm nghiêm trọng về tố tụng như không thẩm tra, xác minh để đưa những người thừa kế tài sản của cụ Phan Thị B1 và bà Tôn Nữ Lệ Th3 tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ; chưa thu thập đủ chứng cứ, không đánh giá tính hợp pháp các tài liệu như Quyết định số 04/UB/QĐ ngày 05/01/1984 của Ủy ban nhân dân thành phố H và Giấy xác nhận hiện trạng sử dụng đất số 85/NLN ngày 13/9/1993 của Phòng Nông Lâm Ngư thành phố H, mà đã xác định diện tích đất tranh chấp là của nguyên đơn là đánh giá chứng cứ không khách quan. Tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm.

Trên đây là vi phạm của Tòa án nhân dân tỉnh T trong việc giải quyết vụ án “Tranh chấp đòi lại tài sản cho ở nhờ”, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng thông báo đến Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh, thành phố trong khu vực tham khảo và rút kinh nghiệm khi kiểm sát giải quyết vụ án tương tự, để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát.