THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM SỐ 74/TB-VKS-DS NGÀY 03/10/2024 CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ VỀ VIỆC “TRANH CHẤP CHIA DI SẢN THỪA KẾ”

Nội dung vấn đề cần rút kinh nghiệm:

Các đương sự đều thừa nhận cụ Dương Th và cụ Lê Thị Tr để lại di sản là thửa đất số 366, tờ bản đồ số 10, diện tích 2.080m² đã được UBND huyện N cấp GCNQSDĐ ngày 15/9/1992 đứng tên ông Dương Th.

Tại Biên bản cuộc họp gia đình ngày 28/03/2006, 07 anh, chị, em (con cụ Th và cụ Tr) chỉ giao cho ông H quyền quản lý, sử dụng, không có quyền định đoạt đối với thửa đất và cuộc họp không có bà Dương Thị Ch nên tòa án cấp sơ thẩm xác định thửa đất 366 là di sản thừa kế của cụ Th và cụ Tr là đúng quy định.

Tuy nhiên, theo GCNQSDĐ cấp ngày 15/9/1992 cho cụ Dương Th và GCNQSDĐ cấp cho hộ ông Dương Anh H ngày 07/8/2006, thửa đất số 366 chỉ có diện tích đất 2.080m², nhưng diện tích đo đạc thực tế là 3.664,8m² (lớn hơn GCNQSDĐ là 1.584,8m²). Tòa án cấp sơ thẩm không làm rõ diện tích đất chênh lệch này có từ đâu, nhưng đã xác định toàn bộ diện tích đất 3.664,8m² là di sản thừa kế của cụ Th và cụ Tr là chưa thu thập đầy đủ chứng cứ để giải quyết vụ án. Bị đơn bà Th cho rằng, phần đất biến động tăng thêm là từ năm 2003, gia đình Bà khai phá, lấn chiếm dần diện tích đất bỏ trống của Hợp tác xã 1, Phú X (HTX đã giải thể) nên diện tích đất mới dôi dư ra. Diện tích đất này không phải là của vợ chồng cụ Th. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị đơn cung cấp tài liệu có xác nhận của một số người dân tại địa phương và được UBND xã chứng thực là phù hợp với GCNQSDĐ đã cấp của cụ Th và cấp cho hộ ông H. Do đó, chỉ có cơ sở sở xác định di sản thừa kế cho cụ Th và cụ Tr là diện tích đất 2.080m².

Mặt khác, gia đình bị đơn đã ở với cụ Th và cụ Tr tại thửa đất này đến khi xảy ra tranh chấp đã hơn 20 năm, nên có công sức trong việc bảo quản, giữ gìn làm tăng giá trị di sản thừa kế, nhưng khi chia thừa kế tòa án cấp sơ thẩm không tính công sức cho bà Th là ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của bà Th.

Ngoài ra, các đồng thừa kế đều có nhu cầu nhận hiện vật để góp sử dụng chung làm nhà thờ cúng cha, mẹ và diện tích đất chia thừa kế 2.080m² có thể chia được, nhưng tòa án cấp sơ thẩm lại giao toàn bộ thửa đất cho bị đơn mà không chia bằng hiện vật cho các đồng thừa kế là xét xử không phù hợp với nguyện vọng của các đương sự trong vụ án.

Vì vậy, bản án phúc thẩm đã chấp nhận 01 phần kháng cáo của bị đơn và kháng cáo của nguyên đơn; sửa bản án sơ thẩm xác định di sản thừa kế là 2.080m² tính công sức cho bị đơn và chia cho các đồng thừa kế diện tích đất 986,30m² (200m² đất ở) để đảm bảo có nơi thờ cúng cha, mẹ và buộc bị đơn trả lại giá tr chênh lệch cho các đồng thừa kế.

Trên đây là vi phạm của Tòa án nhân dân tỉnh L trong việc giải quyết vụ ăn dân sự “Tranh chấp chia di sản thừa kế", Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng thông báo đến Viện kiểm sát các tỉnh, thành trong khu vực tham khảo và rút kinh nghiệm khi kiểm sát giải quyết vụ án tương tự.