THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM SỐ 59/TB-VKS-DS NGÀY 06/9/2023 CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG VỀ KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ “TRANH CHẤP THỪA KẾ TÀI SẢN VÀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT”

Nội dung vấn đề cần rút kinh nghiệm:

Bản di chúc do cụ Lê Thị Ch lập ngày 10/5/2005 là sau thời điểm cụ Nguyễn Hữu H (chết 24/12/2003). Cụ Ch định đoạt cả phần di sản của cụ H để lại là không đúng. Tuy nhiên tại Bản cam kết trong gia đình lập ngày 07/9/2010, các đồng thừa kế đều thống nhất về phân chia tài sản trên cơ sở Bản di chúc do cụ Ch lập ngày 10/5/2005, nên di chúc có hiệu lực pháp luật. Di sản sản của cụ H và cụ Ch được xác định là tài sản chung của các đồng thừa kế.

Quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị Kim Th yêu cầu được nhận 8m ngang thửa đất theo di chúc của cụ Ch lập ngày 10/5/2005 và Bản cam kết trong gia đình lập ngày 07/9/2010. Tuy nhiên bản án dân sự sơ thẩm và bản án phúc thẩm lại căn cứ vào Biên bản làm việc ngày 20/11/2020 đối với các đồng thừa kế tại tòa án cấp sơ thẩm, trong khi bà Th không có mặt và cũng không có văn bản đồng ý với nội dung Biên bản ngày 20/11/2020, nhưng tòa án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm lại chia cho bà Th 7,5m ngang đất là trái với nội dung Di chúc và Bản cam kết lập ngày 07/9/2010 của các đồng thừa kế, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà Th.

Quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị Bích L đồng ý nhận 1,5m ngang đất tại thửa 348 (trước khi chia thừa kế, bà L. đã nhận đất làm nhà 6m ngang). Bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm khi chia thừa kế thửa đất 348, không thẩm định, đo đạc và không giao cho bà L được quyền quản lý, sử dụng đối với phần đất 1,5m ngang này, nên bà L không làm được thủ tục xin cấp GCNQSDĐ đối với phần diện tích đất 1,5m ngang (Bà L cung cấp văn bản của chính quyền địa phương trả lời không làm được GCNQSDĐ do bản án phúc thẩm không phân chia phần tài sản này cho bà L), làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà L.

Tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 13/4/2021 thể hiện, trên thửa đất 163a có một căn nhà từ đường, diện tích 44,7m²; 01 căn nhà cấp 4, 01 quán uốn tóc do ông V xây dựng. Trên thửa đất số 348 có 01 căn nhà xưởng, 01 nhà lán tôn do bà S, bà Th đang sử dụng. Bản án sơ thẩm, phúc thẩm chỉ tuyên chia thừa kế về phần diện tích đất, nhưng không tuyên về phần tài sản trên đất, là ảnh hưởng đến quyền về tài sản trên đất của ông V, bà S và bà Th.

Đối với ngôi nhà từ đường trên diện tích đất 354,6m² tại thửa 163a thuộc quyền quản lý, sử dụng chung của các đồng thừa kế, nhưng án sơ thẩm chỉ giao cho ông Th, ông V và bà Th quản lý, sử dụng chung là không đầy đủ; bản án phúc thẩm bổ sung các đồng thừa kế quản lý, sử dụng chung, nhưng không có ông Nguyễn Hữu Nh, là ảnh hưởng đến quyền lợi của ông Nh.

Đối với yêu cầu phản tố của bà S cho rằng, hiện tại Bà đang quản lý, sửdụng 1/2 diện tích đất phía sau của ông Th, vì ông Th đã chuyển nhượng cho Bà vào năm 2017, với giá 100.000.000 đồng và yêu cầu toà án giải quyết buộc ông Th phải giao cho Bà 1/2 diện tích đất mà ông Th nhận thừa kế. Tại giai đoạn giám đốc thẩm, bà S có cung cấp bản gốc Giấy sang nhượng đất do ông Th viết, thể hiện ông Th đã sang nhượng cho bà Sa 1/2 diện tích đất ông Th được thừa kế (210m²) là phù hợp với nội dung văn bản từ chối nhận một phần đất thừa kế của ông Th để lại cho bà S. Ông Th cũng trình bày là có nhận tiền của bà S và đã viết Giấy từ chối nhận thừa kế, để cho bà S nhận một phần đất Ông được thừa kế; nhưng do Ông không tham gia phiên tòa nên không có lời khai về nội dung này. Tòa án 02 cấp không xem xét yêu cầu phản tố của bà S, làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của bà S.

Trên đây là vi phạm của Tòa án nhân dân tỉnh Đ trong việc giải quyết vụ án “Tranh chấp thừa kế tài sản và tranh chấp hợp đồng quyền sử dụng đất”, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng thông báo đến Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh, thành trong khu vực tham khảo và rút kinh nghiệm khi kiểm sát giải quyết vụ án tương tự, để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát.