Thông báo rút kinh nghiệm số 56/TB-VKS-DS ngày 24/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng về kiểm sát việc giải quyết vụ án dân sự "Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất"
THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM SỐ 56/TB-VKS-DS NGÀY 24/8/2023 CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG VỀ KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ "TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT"
Nội dung vấn đề cần rút kinh nghiệm:
Tại thời điểm bà Trần Thị Minh Ng chuyển nhượng thửa đất tranh chấp cho ông Nguyễn Văn O thì thửa đất của bà Ng chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không được công chứng, chứng thực là vi phạm quy định tại khoản 1, 2 Điều 3 Nghị Định số 79/2001/NĐ-CP ngày 01/11/2001 của Chính phủ, sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 17/1999/NĐ-CP ngày 29/3/1999 của Chính phủ.
Tuy nhiên, ông O đã thanh toán đủ số tiền chuyển nhượng cho bà Ng, nhận bàn giao đất, xây dựng hàng rào, làm nhà trên toàn bộ thửa đất và sử dụng đất từ năm 2008 cho đến nay. Việc sử dụng đất của ông O phù hợp với quy hoạch khu dân cư đã được phê duyệt, điều chỉnh phân khu tỷ lệ 1/2000 phường ĐL tại Quyết định số 2787/QĐ-UBND ngày 31/12/2014 của Ủy ban nhân dân thành phố Đ và được Ủy ban nhân dân phường ĐL xác lập hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sửdụng đất; Sổ mục kê năm 2019 thể hiện: Ông O sử dụng 90,1m² đất. Đồng thời, ông O không bị xử lý vi phạm hành chính theo các quy định của Nhà nước về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai. Do đó, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 14/9/2002 giữa bà Ng và ông O được công nhận theo quy định tại Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2015. Nhưng Tòa án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm lại tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 14/9/2022 vô hiệu là không đúng pháp luật.
Bà Trần Thị Minh Ng có đơn phản tố yêu cầu ông O phải tháo dỡ toàn bộ nhà tạm để xe ô tô trên thửa đất tranh chấp nhưng bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm không xem xét là không giải quyết hết yêu cầu của đương sự và ảnh hưởng đến quyền tự định đoạt của đương sự vi phạm quy định tại Điều 5 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Ngoài ra, phần diện tích đất tranh chấp có 32m² đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đoàn D nhưng tòa án không đưa ông D tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là vi phạm quy định tại khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Bản án dân sự sơ thẩm và bản án dân sự phúc thẩm tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 14/9/2002 vô hiệu là không có căn cứ và có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng nên Hội đồng xét xử giám đốc thẩm chấp nhận toàn bộ Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và hủy toàn bộ bản án dân sự phúc thẩm và bản án dân sự sơ thẩm.
Trên đây là vụ án "Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất". Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng thông báo để Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh, thành phố trong khu vực nghiên cứu, rút kinh nghiệm, nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm sát giải quyết các vụ án dân sự.