THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM SỐ 47/TB-VKS-DS NGÀY 05/6/2024 CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG VỀ KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ "TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT"

Nội dung vấn đề cần rút kinh nghiệm:

Năm 1989, Phòng giáo dục huyện Krông B (nay là thị xã H) tỉnh L có chủ trương ký hợp đồng trồng và chăm sóc cà phê với một số cán bộ, nhân viên của phòng giáo dục. Mỗi cán bộ, nhân viên được giao khoán là 2000m² (2 sào), trong đó bà Phan Thị H được giao lô số 09 và ông Trần Văn H được giao lô số 08. Nhưng sau khi được giao đất trồng cà phê, ông H không quản lý sử dụng. Bà H cho rằng thửa đất tranh chấp là thửa đất số 09 của Bà được giao, còn thửa đất ông H không sử dụng nên Bà đã sử dụng và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Quá trình giải quyết đơn ở giai đoạn giám đốc thẩm, bà H đã bổ sung một số tài liệu, chứng cứ:

Đơn xin xác nhận ngày 02/10/2023 của bà H, được UBND phường An Bình, thị xã H xác nhận ngày 03/10/2023 thể hiện: khu đất được Phòng Giáo dục giao hợp đồng trồng cà phê có phía Nam giáp đường Cung Kiệm nay là đường Nguyễn Trãi.

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông D, ông Ch các thửa đất theo hợp đồng trồng cà phê cùng đợt với bà H đều thể hiện phía Nam của thửa đất giáp với đường Nguyễn Trãi (khoảng 20 m mặt đường).

Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà H (thửa 51) chỉ giáp đường Lạc Long Quân mà không giáp đường Nguyễn Trãi.

Tại Bản trích đo địa chính thửa đất tranh chấp thể hiện phía Nam thửa đất giáp với đường Nguyễn Trãi khoảng 20m.

Theo Biên bản xác minh ngày 05/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã H, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã H xác định: hiện tại bà Phan Thị H chưa có thửa đất nào đăng ký cấp Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất mặt đường Nguyễn Trãi và phần đất tranh chấp là một phần thửa đất của bà Phan Thị H được phòng Giáo dục huyện cấp năm 1989.

Như vậy, đất Phòng giáo dục giao đất cho cán bộ trồng cà phê đều có một mặt giáp đường Nguyễn Trãi, nhưng hiện nay phần đất bà H được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không giáp đường Nguyễn Trãi, chỉ có thửa đất tranh chấp giáp đường Nguyễn Trãi nên có cơ sở khẳng định thửa đất tranh chấp là của bà H được giao lô số 09 (không tính đất lấn chiếm của ông H) là phù hợp với các thửa đất phòng giáo dục đã giao.

Ngoài ra, những người làm chứng là ông Quách Hữu Đ (em ruột của ông ông B, chồng bà H và là anh ruột của ông Th, chồng bà L) và ông Ch (cán bộ phòng giáo dục, được giao đất cùng đợt) đều khẳng định năm 1999, vợ chồng bà H cho ông Th mượn đất làm nhà để đưa vợ con từ ngoài bắc vào sinh sống.

Bên cạnh đó, tại Tờ trình số 29/Ttr-UBND ngày 26/4/2018 của UBND phường An Bình, thị xã H về việc xin ý kiến giải quyết đơn xin cấp đất có nội dung: “ Thửa đất bà H hợp đồng là thửa đất số 51, tờ bản đồ số 18, diện tích 3188,8m² và thửa đất số 70, tờ bản đồ số 18, diện tích 870,4m² (hiện trạng gia đình bà H đang canh tác tại thửa 51,...., còn lại thửa đất số 70.... ông Quách Hữu T là cháu của chồng bà Phan Thị H đang sử dụng trồng cây công nghiệp và làm nhà ở)... Như vậy, UBND phường An Bình cũng xác định cả hai thửa 51 và 70 đều là đất hợp đồng trồng cà phê do bà H đứng tên hợp đồng.

Căn cứ vào Trích đo địa chính và hiện trạng sử dụng đất có cơ sở xác định ông Trần Văn H được giao lô đất số 08 và bà Phan Thị H được giao lô đất số 09, nhưng ông H không sử dụng nên bà H lấn chiếm thửa số 08 hợp với thửa số 09 của bà H thành một thửa lớn để quản lý, sử dụng chung. Năm 1993, bà H đào một cái giếng trên phần đất tranh chấp để sử dụng. Đến năm 1999, vợ chồng bà H cho ông Th (em chồng bà H) mượn một phần diện tích đất thuộc thửa đất Phòng giáo dục giao cho bà H từ năm 1989 và đào giếng từ năm 1993; phần diện tích đất còn lại trong thửa đất của ông H thì vợ chồng bà H vẫn tiếp tục quản lý, sử dụng nên việc bà L và anh T cho rằng thửa đất tranh chấp là đất hoang do ông Th, bà L khai hoang là không cơ sở.

Như vậy, gia đình bà H thuộc đối tượng được Phòng giáo dục giao đất trồng cà phê và đã sử dụng ổn định từ năm 1989 (trước ngày 15/10/1993), đến năm 1999 mới cho gia đình ông Th mượn, nên tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H, buộc bà L, anh T trả lại diện tích đất cho bà H và bà H được quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được cấp Giấy chứng nhận là có căn cứ. Tòa án cấp phúc thấm không xác minh, thu thập chứng cứ để làm rõ quá trình sử dụng đất cũng như hiện trạng sử dụng đất (phần đất bà H được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không giáp đường Nguyên Trãi) như đã phân tích ở trên, nhưng đã bác yêu cầu của bà H là không đúng quy định.

Tuy nhiên, gia đình bà L, anh T đã có nhà trên đất từ năm 1999, để đảm bảo nơi ở ổn định cho gia đình bà L và anh T nên cần giao phần đất có nhà cho bà L, anh T (đủ điều kiện tách thửa) và buộc bà L, anh T trả lại giá trị đất cho bà H sau khi đã trừ đi giá trị tài sản và chi phí tôn tạo làm tăng giá trị đất của bà L và anh T nên Hội đồng giám đốc thẩm đã chấp nhận một phần kháng nghị giám đốc thẩm số 54/QĐ-VKS-DS ngày 01/8/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, hủy toàn bộ Bản án phúc thẩm số 163/2021/DS-PT ngày 27/9/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh L; giao hồ sơ vụ án cho tòa án nhân dân tỉnh L để xét xửphúc thẩm lại vụ án.

Trên đây là vi phạm của Tòa án nhân dân tỉnh L trong việc giải quyết vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng thông báo đến Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh, thành trong khu vực tham khảo và rút kinh nghiệm khi kiểm sát giải quyết vụ án tương tự, để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát.”