THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM SỐ 46/TB-VKS-DS NGÀY 05/6/2024 CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG VỀ KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ “KIỆN YÊU CẦU HUỶ HỢP ĐỒNG THUÊ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, HỢP ĐỒNG THUÊ MÁI VÀ YÊU CẦU THỰC HIỆN NGHĨA VỤ TRẢ TIỀN”

Nội dung vấn đề cần rút kinh nghiệm:

Hợp đồng thuê mái ngày 10/7/2020 do bà Lương Thị L đại diện "Hộ kinh doanh Lương Thị L" ký với Công ty 35 là đúng quy định tại các Điều 101, 134, 139 Bộ luật Dân sự. Bà L và chồng là ông Lê Văn A cùng tham gia góp vốn thực hiện Dự án, bà L đảm nhiệm chức vụ Phó giám đốc Công ty 35, còn ông Lê Văn A với tư cách Giám đốc Công ty TNHH một thành viên Đức T đã gửi nhiều văn bản đến Công ty Điện lực Tinh L đề nghị được đầu tư Dự án, bán điện cho Điện lực tỉnh L và trên thực tế, ông Lê Văn A là người chịu trách nhiệm thi công nhà kho. Do đó, ông Lê Văn A cho rằng bà L ký hợp đồng cho thuê mái, không được sự đồng ý của ông Lê Văn A nên yêu cầu tuyên bố hợp đồng thuê mái vô hiệu là không có căn cứ. Tòa án cấp sơ thẩm và tòa án cấp phúc thẩm đã công nhận hợp đồng thuê mái có hiệu lực là đúng quy định.

Đối với Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất do ông Lê Văn A và bà Lương Thị L ký với Công ty 35 ngày 28/9/2020 đối với thửa đất số 10, tờ bản đồ số 70, diện tích 6.055m² thì tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 25/9/2020 của UBND huyện Chư P đã công nhận “Hộ kinh doanh Lương Thị L” có quyền sửdụng thửa đất số 10, tờ bản đồ số 70, diện tích 6.055m² loại đất Nhà nước cho thuê trả tiền hàng năm.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 179 Luật Đất đai năm 2013, vợ chồng bà L sử dụng đất thuê của Nhà nước trả tiền thuê hàng năm, không được quyền cho thuê lại đất, nhưng ngày 28/9/2020, bà L và ông A ký Hợp đồng cho Công ty 35 thuê thửa đất số 10 là trái pháp luật (hiện nay UBND huyện Chư P) là đại diện Nhà nước quản lý thửa đất cũng không đồng ý cho Công ty 35 thuê lại thửa đất. Do đó, tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố hợp đồng thuê quyền sử dụng đất vô hiệu là có cơ sở. Tòa án cấp phúc thẩm công nhận hiệu lực của hợp đồng thuê quyền sửdụng đất là không đúng quy định tại khoản 2 Điều 179 Luật Đất đai năm 2013.

Tuy nhiên, trong vụ án có vợ chồng ông Dương Quang Ph, bà Nguyễn Thị H, ông Đinh Công B, ông Phan Sỹ Đ, ông Trần Đắc L là những người góp vốn cùng ông Phạm Văn M đầu tư Dự án sản xuất, bán điện mặt trời áp mái do ông M thành lập Công ty TNHH một thành viên, chủ sở hữu là ông M đã vi phạm thỏa thuận về góp vốn (lẽ ra phải thành lập loại hình Công ty Cổ phần để đảm bảo quyền lợi của các thành viên góp vốn theo quy định tại Điều 87 Luật Doanh nghiệp) và ông M không minh bạch thông tin tài chính, nên những người góp vốn không yêu cầu ông M chuyển đổi loại hình Công ty để chia lợi nhuận mà chỉ yêu cầu Công ty 35 trả tiền gốc đã góp vốn và yêu cầu trả lãi, nhưng tòa án cấp sơ thấm chưa xem xét, giải quyết đầy đủ, thỏa đáng yêu cầu của những người góp vốn nên cần hủy bản án phúc thẩm, giao hồ sơ vụ án cho tòa án cấp phúc thẩm xét xử phúc thẩm lại vụ án.

Trên đây là vi phạm của Tòa án nhân dân tỉnh L trong việc giải quyết vụ án “Tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất, họp đồng thuê mái và yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền", Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng thông báo đến Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh, thành trong khu vực tham khảo và rút kinh nghiệm khi kiểm sát giải quyết vụ án tương tự, để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát.