Thông báo rút kinh nghiệm số 38/TB-VC1-V2 ngày 14/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội về việc tranh chấp chia thừa kế tài sản và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM SỐ 38/TB-VC1-V2 NGÀY 14/8/2023 CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI VỀ VIỆC TRANH CHẤP CHIA THỪA KẾ TÀI SẢN VÀ YÊU CẦU HỦY GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
Nội dung vấn đề cần rút kinh nghiệm:
1. Về tỉnh công sức
Ông Sinh và bà Loan kết hôn năm 1988, về chung sống cùng gia đình cụ My. Năm 1993, cụ My chết, ông Sinh, bà Loan tiếp tục sinh sống trên thửa đất tranh chấp cho đến nay. Quá trình sinh sống, ông Sinh, bà Loan đã có công sức trông nom, duy trì tài sản như xây tường rào bao quanh, sửa nhà, xây dựng nhà bếp, trồng cây ăn quả..., tuy nhiên, khi cụ My ốm, các con cùng trông nom, mai táng, cúng giỗ đều đóng góp chung. Việc ông Sinh, bà Loan ở trên đất có công sức nhiều hơn các thừa kế khác nhưng không đáng kể. Bản án sơ thẩm chia di sản thừa kế thành 08 kỳ phần nhưng dã dành 03 kỳ phần công sức tôn tạo, phát triển tài sản, chăm sóc, mai táng, thờ cúng người mất cho ông Sinh, bà Loan, chỉ còn 05 kỳ phần chia theo pháp luật cho các đồng thừa kế là bà Minh, bà Hòa, ông Bình, ông Hiển, ông Sinh, mỗi người 01 kỳ phần, theo đó ông Sinh, bà Loan được hưởng 04 kỳ phần tương đương với ½ diện tích đất bằng 938m², trị giá 1.708.546.995 đồng là không tương xứng, không đảm bảo công bằng trong phân chia di sản.
2. Chia di sản thừa kế
Di sản thừa kế của cụ Tình và cụ My để lại là ngôi nhà cấp 4 và diện tích 1.848m² đất (trong đó có 600m² đất thổ cư và 1.248m² đất trồng cây lâu năm) được Ủy ban nhân dân huyện Đại Từ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Trần Văn Sinh và Đoàn Bích Loan. Kết quả thẩm định, đo đạc thực tế thửa đất cũng như theo sơ đồ chia đất kèm theo bản án thể hiện thửa đất tranh chấp có diện tích 1.891,7m² nhiều hơn GCNQSDĐ 43,7m², trong khi đó quyết định của bản án sơ thẩm xác định diện tích đất thực tế sử dụng là 1.856,9m², nhiều hơn GCNQSDĐ 8,9m², trên cơ sở đó chia cho các đồng thừa kế là có sự mâu thuẫn về số liệu nhưng chưa được làm rõ. Tòa án cấp sơ thẩm cũng chưa xác định diện tích đất dôi dư so với GCNQSDĐ có nằm trong quy hoạch không, có đủ điều kiện để cấp GCNQSDĐ không và có thể tách diện tích đất thổ cư thành nhiều thửa để chia cho các thừa kế không là chưa đầy đủ, gây khó khăn cho công tác thi hành án.
Khi phân chia di sản bằng hiện vật, bản án sơ thẩm chia cho ông Bình, bà Hòa, bà Minh, bà Hiển hưởng phần di sản thừa kế tương đương ½ diện tích đất và hoa màu trên đất bằng 918,9m², trong khi ông Sinh, bà Loan lại được hưởng phần tương đương ½ diện tích đất bằng 938m² cùng các tài sản và hoa màu trên đất, đồng thời quyết định cắt một phần diện tích đất chia cho ông Bình, bà Hòa, bà Minh, bà Hiền 152,5m² rộng 2,5m để làm lối đi chung là không đảm bảo công bằng, ảnh hưởng đến quyền lợi của ông Bình - bị đơn, bà Hòa, bà Minh và bà Hiển - những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Hơn nữa, bản án sơ thẩm quyết định giao cho các đồng thừa kế phần diện tích đất cụ thể với diện tích chênh lệch nhau, nhưng không xem xét đến trị giá di sản được phân chia, không hỏi ý kiến các đương sự để buộc các đương sự thanh toán tiền chênh lệch so với di sản mình được hưởng cho các đồng thừa kế khác hay không là thiếu khách quan, ảnh hưởng đến quyền lợi của các đương sự.
VKSND cấp cao tại Hà Nội thông báo để các VKSND cấp tỉnh, VKSND cấp huyện trong khu vực nghiên cứu để vận dụng tránh sai lầm khi giải quyết vụ án tương tự, nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát ở lĩnh vực này.