Thông báo rút kinh nghiệm số 30/TB-VKSTC ngày 17/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao kiểm sát việc giải quyết vụ án dân sự về việc tranh chấp về thừa kế tài sản, yêu cầu huỷ văn bản, hợp đồng công chứng và yêu cầu huỷ quyết định cá biệt

THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM SỐ 30/TB-VKSTC NGÀY 17/02/2023 CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ VỀ VIỆC TRANH CHẤP VỀ THỪA KẾ TÀI SẢN, YÊU CẦU HUỶ VĂN BẢN, HỢP ĐỒNG CÔNG CHỨNG VÀ YÊU CẦU HUỶ QUYẾT ĐỊNH CÁ BIỆT

Nội dung vấn đề cần rút kinh nghiệm:

1. Về thu thập, đánh giá tài liệu chứng cứ:

1.1. Trong quá trình giải quyết vụ án, Ủy ban nhân dân thành phố H cung cấp hồ sơ quan lý đất đai theo Chỉ thị 299/TTg thể hiện: Cố Nguyễn Tấn N là chủ sử dụng thửa đất số 192, tờ bản đồ số 2, diện tích 5.280m² (gồm 3.780m² đất thổ cư, 1.500m² đất lúa màu), ở thôn T, xã C, thành phố H, tỉnh Q. Tuy nhiên, Toà án chưa xác minh, làm rõ tài liệu này là tài liệu được trích từ Sổ đăng ký ruộng đất, Số địa chính theo điểm b khoản 1 Điều 100 Luật đất đai năm 2013 hay Sổ mục kê, Sổ kiến điền, Bản tổng hợp các trường hợp sử dụng đất hợp pháp theo Điều 18 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ là thu thập chứng cứ chưa đầy đủ.

1.2. Toà án chưa xác minh diện tích 1.500m² đất nông nghiệp do cố Nguyễn Tấn N đã kê khai, đăng ký theo Chỉ thị số 299/TTg, mà hộ ông Nguyễn Tấn Th được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1994 theo Nghị định số 64-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ nằm ở vị trí nào của thửa đất số 192 (nay là thửa số 174), để xác định di sản của vợ chồng có Nguyễn Tấn N là phần diện tích còn lại của thửaa số 174 sau khi trừ đi phần diện tích đất nông nghiệp nằm trong thửa số 174.

2. Về giải quyết vụ án

2.1. Các đương sự đều xác định thửa đất số 192, diện tích 5.280m² trên đất có căn nhà, cây lâu năm ở tổ 3, thôn T, xã C, thành phố H do vợ chồng cố Nguyễn Tấn N, cố Lương Thị Thi tạo lập. Quá trình sử dụng đất, cố Nguyễn Tấn N đã kê khai, đăng ký theo Chỉ thị số 299/TTg ngày 10/11/1980 đối với thửa đất số 192, diện tích 5.280m², trong đó 3.780m² đất thổ cư, 1.500m² đất lúa màu. Do đó, có đủ căn cứ để xác định nhà đất trên là di sản của vợ chồng cố N, cố Thi để lại. Vì vậy, Toà án cấp sơ thẩm, Toà án cấp phúc thẩm cho rằng vợ chồng cố N không có loại giấy tờ nào được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 100 Luật đất đai năm 2013 nên thửa đất tranh chấp không phải là di sản thừa kế của vợ chồng cố N là không đúng quy định của pháp luật về đất đai và mục 1 Phần II của Nghị quyết số 02/2004 NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình.

2.2. Năm 1983, khi cố N, cố Th1 chuyển về sống với gia đình người con duy nhất là cụ Nguyễn Tấn T1 ở xã C, thị xã H (nay là 359 CĐ, thành phố H), tỉnh Q thì gia đình ông Nguyễn Tấn Th (con trai cụ T1, cháu nội của cố N) quản lý, sử dụng thửa đất trên. Quá trình sử dụng, hộ gia đình ông Th đã đăng ký, kê khai đất theo Nghị định số 64-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ và được Uỷ ban nhân dân thị xã H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với toàn bộ thửa đất nêu trên, mang số thửa 223, diện tích 5.150m² (sau đó điều chỉnh diện tích thực tế là 5.200m²), mục đích sử dụng: thổ cư. Việc Uỷ ban nhân dân thị xã H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với toàn bộ thửa đất số 223 cho hộ gia đình ông Th với mục đích sử dụng thổ cư, trong đó có 3.780m² đất thổ cư của vợ chồng cố N là không đúng Nghị định số 64-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ, mà hộ gia đình ông Th chỉ có quyền sử dụng đối với diện tích đất nông nghiệp cố N đã đăng ký, kê khai theo Chỉ thị số 299/TTg. Do đó, Toà án cấp phúc thẩm nhận định việc Uỷ ban nhân dân thị xã H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 18/10/1994 cho hộ gia đình ông Th đúng quy định pháp luật là không chính xác.

2.3. Ngày 26/02/2019, bà Nguyễn Thị Anh T (cháu nội cố N, con cụ T1) có đơn khởi kiện yêu cầu Toà án chia di sản thừa kế của vợ chồng cố N là diện tích 3.225,7m² đất, tại thửa số 223 (nay là thửa 174). Tuy nhiên ngày 03/4/2019, gia đình ông Nguyễn Tấn Th vẫn lập Văn bản phân chia tài sản chung của hộ gia đình với nội dung vợ chồng ông Nguyễn Tấn Th, bà Hồ Thị Thanh Th4 tặng cho thửa đất số 174, diện tích 3.225,7m² cho các con trai là anh Nguyễn Tấn Th2, anh Nguyễn Tấn Th3. Sau đó, anh Th2, anh Th3 đã chuyển nhượng toàn bộ thửa đất số 174 cho bà Hồ Thị Thanh H theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 18/5/2019. Như vậy, việc gia đình ông Th tặng cho các con là anh Th2, Th3; sau đó anh Th2, Th3 lại chuyển nhượng cho bà Hồ Thị Thanh H, trong khi bà Nguyễn Thị Ánh T đã có đơn khởi kiện vụ án tranh chấp thừa kể là hành vi tẩu tán tài sản. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm, Toà án cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc huỷ Văn bản thoả thuận phân chia tài sản chung ngày 03/4/2019, hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 18/5/2019 là trái quy định tại điểm b khoản 1 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 và không bảo đảm quyền lợi của những người thừa kế của vợ chồng cố N, cố Th1.

Viện kiểm sát ở cấp phúc thẩm đã phát hiện vi phạm của Toà án cấp sơ thẩm, Toà án cấp phúc thẩm trong việc giải quyết vụ án. Tuy nhiên, việc nghiên cứu hồ sơ, đánh giá chứng cứ của cả hai cấp kiểm sát trong vụ án này còn hạn chế, chưa chỉ ra đầy đủ và chính xác các vi phạm của Tòa án cấp sơ thẩm, Toà án cấp phúc thẩm.

Trên đây là những vi phạm của Tòa án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm trong việc giải quyết vụ án "Tranh chấp về thừa kế tài sản, yêu cầu huỷ văn bản, hợp đồng công chứng và yêu cầu huỷ quyết định cá biệt". Để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát, Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Vụ 9) thông báo đến các Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới cùng tham khảo và rút kinh nghiệm khi kiểm sát việc giải quyết các vụ việc tương tự.