Thông báo rút kinh nghiệm số 25/TB-VKS-DS ngày 04/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng kiểm sát việc giải quyết vụ án dân sự về việc tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng, chứng thực vô hiệu và yêu cầu hủy quyết định cá biệt
THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM SỐ 25/TB-VKS-DS NGÀY 04/4/2023 CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ VỀ VIỆC TRANH CHẤP LIÊN QUAN ĐẾN YÊU CẦU TUYÊN BỐ VĂN BẢN CÔNG CHỨNG, CHỨNG THỰC VÔ HIỆU VÀ YÊU CẦU HỦY QUYẾT ĐỊNH CÁ BIỆT
Nội dung vấn đề cần rút kinh nghiệm:
Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định Văn bản phân chia tài sản thừa kể số chứng thực 121, quyển số 02/09 TP/SCT/HĐGD do UBND xã Cẩm Hà, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam chứng thực ngày 07/5/2009 bị vô hiệu là đúng quy định tại Điều 122, Điều 127 Bộ luật dân sự năm 2005, bởi vì ông Lê Tú đã giả chữ ký của ông Lê Em và ông Lê Hồng Phong và UBND xã chứng thực khi không có mặt và không phải chữ ký của ông Lê Em, ông Lê Hồng Phong là không đúng quy định của pháp luật.
Về Hợp đồng chuyển nhượng đối với thửa đất 1198, diện tích 178,2m² của ông Lê Tú cho ông Lê Quang Nam và ông Nguyễn Quang Chung ngày 21/11/2014 và Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa 1208, diện tích 99,1m² ngày 05/10/2016 của ông Lê Tú cho ông Lê Quang Nam, mặc dù các thửa đất này đã được chỉnh lý biến động sang tên ông Nam và ông Chung, nhưng các hợp đồng chuyển nhượng không đúng quy định của pháp luật và không thuộc trường hợp ngay tình được pháp luật bảo vệ bởi vì:
- Ông Lê Tú đã giả chữ ký của ông Lê Em và ông Lê Hồng Phong để lập Văn bản phân chia di sản thừa kế ngày 7/5/2009 và Văn bản này đã bị vô hiệu nên các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cũng bị vô hiệu theo khoản 2 Điều 138 BLDS 2005;
- Việc chuyển nhượng các thửa đất giữa ông Lê Tú với ông Lê Quang Nam, ông Nguyễn Quang Chung chưa hoàn thành. Các bên chưa giao tài sản cho nhau. Ông Nam và ông Chung cũng chưa giao đủ tiền nhận chuyển nhượng thửa đất cho ông Lê Tú. Tại phiên toà phúc thẩm ngày 23/2/2022, ông Nam và ông Chung khai thửa đất 1198 mua với giá 623.700.000 đồng, nhưng ông Chung và ông Nam chỉ mới đưa tiền cọc là 190.000.000 đồng cho ông Lê Tú;
- Sau khi xảy ra tranh chấp, ông Lê Tú đã trả lại số tiền 190.000.000₫ cho ông Nam và ông Chung. Ông Nam và ông Chung đã nhận lại số tiền này nên các bên chưa bản giao tài sản cho nhau, chưa trả tiền từ năm 2014 đến nay. Nhà đất vẫn do bà Liền (vợ ông Tú) quản lý, sử dụng;
- Khi ông Lê Tú chuyển nhượng các thửa đất này, bà Nguyễn Thị Liền là vợ ông Lê Tú, nhưng bà Liền không biết việc chuyển nhượng và bà Liền cũng không ký vào bất cứ giấy tờ chuyển nhượng và không nhận được khoản tiền từ việc chuyển nhượng đất là vi phạm Điều 109 Bộ luật dân sự năm 2005;
- Trên thửa đất 1198 ông Lê Tú chuyển nhượng cho ông Lê Quang Nam và Nguyễn Quang Chung có ngôi nhà cấp 4 do cha mẹ là ông Lê Thưởng và bả Nguyễn Thị Thơ để lại, quá trình sinh sống bà Nguyễn Thị Liễn có xây dựng thêm khu vệ sinh và sân để phục vụ sinh hoạt, nhưng khi chuyển nhượng các bên chỉ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, không đề cập đến tài sản trên đất là ảnh hưởng đến quyền lợi của những người thừa kế tài sản và bản án cũng không thể thi hành án được;
- Tại phiên toà phúc thẩm ngày 23/2/2022, ông Nam và ông Chung còn khai khi nhận chuyển nhượng thửa đất thứ nhất (thửa 1198), các Ông biết có nhà trên đất nên không giao mặt bằng được. Ông Lê Tú và ông Nam, ông Chung mới thực hiện chuyển nhượng thửa đất thứ hai (thửa 1208) để thay thế thửa đất thứ nhất. Do đó, việc chuyển nhượng đối với thửa đất 1208 là giả tạo nên bị vô hiệu theo quy định tại Điều 129 Bộ luật dân sự năm 2005.
Như vậy, việc chuyển nhượng các thửa đất giữa ông Lê Tú với ông Lê Quang Nam và Nguyễn Quang Chung đối với 02 thửa đất đều bị vô hiệu, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm lại áp dụng khoản 2 điều 133 Bộ luật dân sự 2015 để xác định Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lê Tú với các ông Lê Quang Nam, Nguyễn Quang Chung ngày 21/11/2014 và Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lê Tú với các ông Lê Quang Nam ngày 05/10/2016 là ngay tình và không tuyên vô hiệu đối với 02 hợp đồng này; không tuyên hủy các GCNQSDĐ; không hủy chỉnh lý biến động sang tên cho ông Nam, ông Chung và ông Nam là không đúng quy định của pháp luật.
Mặt khác, tòa án cấp sơ thẩm áp dụng khoản 2 điều 133 Bộ luật dân sự 2015 để giải quyết vụ án cũng không đúng vì thời điểm các bên chuyển nhượng, Bộ luật dân sự 2005 đang có hiệu lực nên phải áp dụng Điều 129 và khoản 2 Điều 138 BLDS 2005 để giải quyết mới đúng quy định của pháp luật.
Vụ án này, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam đã làm tốt công tác kháng nghị phúc thẩm, được Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng chấp nhận.
Trên đây là vi phạm của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam trong việc giải quyết vụ án "Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng, chứng thực vô hiệu và yêu cầu hủy quyết định cá biệt", Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng thông báo đến Viện kiểm sát các tỉnh, thành trong khu vực tham khảo và rút kinh nghiệm khi kiểm sát giải quyết vụ án tương tự.