Thông báo rút kinh nghiệm số 24/TB-VC2-DS ngày 16/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về kiểm sát việc giải quyết vụ án dân sự
THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM SỐ 24/TB-VC2-DS NGÀY 16/5/2025 CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ
Nội dung vấn đề cần rút kinh nghiệm:
1. Vi phạm về thủ tục tố tụng:
1.1. Trong quá trình khởi kiện, ông Phạm Thanh T, bà Ngô Thi H cho rằng ông Phạm Xuân P, bà Nguyễn Thị Y là người đã lấn chiếm đất của ông Phạm Thanh T bà Ngô Thị H, sau đó, ông Phạm Xuân P và bà Nguyễn Thị Y đã chuyển nhượng cho ông Trần Tiến V bà Lê Thị B, Toà án cấp sơ thẩm đã đưa ông Phạm Xuân P bà Nguyễn Thị Y vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ trong vụ án, mặc dù ông Phạm Xuân P bà Nguyễn Thị Y có địa chỉ đầy đủ trong hồ sơ vụ án, nhưng quá trình giải quyết vụ án, Toà án cấp sơ thẩm không tiến hành ủy thác cho Tòa án có thẩm quyền để lấy lời khai ông Phạm Xuân P bà Nguyễn Thị Y là vi phạm Điều 105 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
1.2. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Phạm Thanh T, bà Ngô Thị H khởi kiện yêu cầu hủy Giấy CNQSDĐ số DE 079711 ngày 27/9/2022 cấp cho ông Trần Tiến V và bà Lê Thị B và yêu cầu ông Trần Tiến V, bà Lê Thị B trả lại cho gia đình ông Phạm Thanh T, bà Ngô Thị H diện tích 113m2 đất trồng cây hàng năm. Vợ chồng ông Trần Tiến V, bà Lê Thị B là bị đơn không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Thanh T, bà Ngô Thị H; ông Trần Tiến V, bà Lê Thị B không có yêu cầu phản tố và cũng không có đương sự nào trong vụ án có yêu cầu độc lập, không có ai tranh chấp đối với diện tích 3,4m2 và 8,96 m tường rào, nhưng tại Bản án sơ thẩm đã tuyên xử: Buộc ông Phạm Thanh T, bà Ngô Thị H tháo dỡ, di dời 8,96 m tường rào phía sau bên hông nhà, tiếp giáp với thửa đất ông Trần Tiến V, bà Lê Thị B để trả lại diện tích 3,4m2 đất cho ông Trần Tiến V, bà Lê Thị B. “Buộc ông Trần Tiến V bà Lê Thị B phải hổ trợ tháo dở, di dời số tiền 11.020.000 đồng cho ông Phạm Thanh T bà Ngô Thị H tháo dỡ, di dời hàng rào trên đất ông Trần Tuyến V, bà Lê Thị B”, nội dung nêu trên không thuộc thẩm quyền xem xét của Tòa án vì không có yêu cầu của đương sự, vi phạm nguyên tắc cơ bản về quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự quy định tại Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
1.3. Đối với Giấy CNQSDĐ số phát hành CP 748232, thửa đất số 214, tờ bản đồ số 45, diện tích 360m2 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 25/12/2018, mang tên ông Phạm Thanh T, bà Ngô Thi H. Trong quá trình giải quyết vụ án không có ai yêu cầu hủy Giấy CNQSDĐ nêu trên; hồ sơ xin cấp Giấy CNQSDĐ của ông Phạm Thanh T, bà Ngô Thị H còn có nhiều thủ tục, không riêng gì chữ ký tại “Đơn đề nghị cấp đổi”, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cũng chưa có ý kiến gì đối với Giấy CNQSDĐ số 748232, Tòa án cấp sơ thẩm cũng chưa xác minh, làm rõ về Giấy CNQSDĐ nêu trên với Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q, vì vậy, chưa có căn cứ xác định Giấy CNQSDĐ cấp cho ông Phạm Thanh T, bà Ngô Thị H có xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự hay không, nhưng tại Bản án sơ thẩm chỉ căn cứ vào Kết luận giám định chữ ký của ông Phạm Thanh T tại “Đơn đề nghị cấp đổi”, không phải là chữ ký của ông Phạm Thanh T để hủy Giấy CNQSDĐ số phát hành CP 748232 tại thửa đất số 214, tờ bản đồ số 45 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 25/12/2018 cho ông Phạm Thanh T, bà Ngô Thị H là chưa có cơ sở.
2. Vi phạm về xem xét, đánh giá chứng cứ:
Nguồn gốc thửa đất là của ông Phạm Văn Đ và bà Hoàng Thị T, được UBND huyện N cấp Giấy CNQSDĐ ngày 18/3/1994 tại thửa đất số 273, tờ bản đồ số 6, diện tích 1.310m2; sau đó ông Phạm Văn Đ, bà Hoàng Thị T đã cho ông Phạm Thanh T, bà Ngô Thị H 180m2 đất. Ngày 08/8/2000, UBND huyện N cấp Giấy CNQSDĐ tại thửa đất số 273B, tờ bản đồ số 6, diện tích 180m2 cho ông Phạm Thanh T, bà Ngô Thị H, trong đó có một cạnh tiếp giáp đường Quốc lộ 1A là 9m.
Sau khi ông Phạm Văn Đ chết, bà Hoàng Thị T nhận thừa kế quyền sử dụng đất và được đo đạc, chỉnh lý thành thửa đất số 67, tờ bản đồ số 45, diện tích đất còn lại là 942,5m2; phần diện tích đất này bà Hoàng Thị T đã tách thành 4 thửa đất; thửa đất 211 bà Hoàng Thị T tặng cho ông Trần Văn P, bà Phạm Thị V; thửa đất 212 bà Hoàng Thị T tặng cho ông Trần Tiến V, bà Lê Thị B; thửa đất 213 bà Hoàng Thị T tặng cho ông Phạm Xuân P, bà Nguyễn Thị Y; thửa đất 214 có diện tích 69,9m2 bà Hoàng Thị T tặng cho ông Phạm Thanh T, bà Ngô Thị H, trong thửa đất này có một cạnh tiếp giáp với đường Quốc lộ 1A là 1,07m. Như vậy trong phần đất ông Phạm Văn Đ, bà Hoàng Thị T đã cho ông Phạm Thanh T, bà Ngô Thị H có một cạnh tiếp giáp Quốc lộ 1A tổng cộng là 10,07m.
Tuy nhiên, khi giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm đã không xem xét, đo đạt tất cả các thửa đất có nguồn gốc của ông Phạm Văn Đ, bà Hoàng Thị T mà bà Hoàng Thị T đã tách thửa và tặng cho ông Trần Văn P, bà Phạm Thị V; ông Trần Tiến V, bà Lê Thị B; ông Phạm Xuân P, bà Nguyễn Thị Y; ông Phạm Thanh T, bà Ngô Thị H có đúng với mốc giới, vị trí, theo hồ sơ địa chính hay không, các cạnh tiếp giáp đường Quốc lộ 1A có bị dịch chuyển mốc giới so với hồ sơ gốc thửa đất của ông Phạm Văn Đ, bà Hoàng Thị T hay không; có bị tịnh tiến sang thửa đất số 213 của ông Phạm Xuân P, bà Nguyễn Thị Y sau đó đã bán cho ông Trần Tiến V, bà Lê Thị B và thửa đất 214 của ông Phạm Thanh T, bà Ngô Thị H hay không, trong khi đó sơ đồ kèm theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chổ cho thấy kích thước, diện tích các thửa đất đều không trùng khớp với nội dung các Giấy CNQSDĐ đã cấp nên cần phải xem xét thẩm định đo đạc hiện trạng toàn bộ thửa đất của ông Phạm Văn Đ, bà Hoàng Thị T mới có cơ sở xác định nguyên nhân biến động của thửa đất số 214, tờ bản đồ số 45.
Do có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và thu thập, đánh giá chứng cứ chưa toàn diện, đầy đủ mà ở cấp phúc thẩm không thể khắc phục được nên Tòa án cấp phúc thẩm đã chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Thanh T, bà Ngô Thị H, hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm, giao hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm để giải quyết lại vụ án theo đúng quy định của pháp luật.
Trên đây là vi phạm của Tòa án nhân dân tỉnh Q trong việc giải quyết vụ án mà Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Q không phát hiện được trong quá trình kiểm sát hồ sơ vụ án và tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm. Trong quá trình xét xử phúc thẩm, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đã phát hiện Tòa án cấp sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và thu thập, đánh giá chứng cứ chưa toàn diện, đầy đủ nên đã đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm hủy Bản án dân sự sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm để xác minh làm rõ các chứng cứ và giải quyết lại vụ án theo đúng quy định của pháp luật và được Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận.
Để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng thông báo đến Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh, thành phố trong khu vực cùng tham khảo và rút kinh nghiệm khi kiểm sát giải quyết vụ án tương tự.