Nguồn án lệ về việc tranh chấp quyền sử dụng đất (Quyết định giám đốc thẩm số 29/2023/DS-GĐT ngày 22/4/2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội)
NGUỒN ÁN LỆ VỀ VIỆC TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT (QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 29/2023/DS-GĐT NGÀY 22/4/2023 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI)
Quyết định giám đốc thẩm số 29/2023/DS-GĐT ngày 22/4/2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội hủy Bản án dân sự phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương về vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Tr với bị đơn là ông Nguyễn Huy Kh và 21 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác.
Nội dung hủy án:
“[2] Quá trình giải quyết vụ án tại giai đoạn phúc thẩm, dòng họ Nguyễn H cử Ban thường trực họ tộc gồm 8 đại diện tham gia tố tụng tại cấp phúc thẩm và quyết định mọi vấn đề liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của dòng họ là ông Nguyễn Huy B, ông Nguyễn Huy Kh, ông Nguyễn Huy H, ông Nguyễn Huy H, ông Nguyễn Huy T, ông Nguyễn Huy Đ, ông Nguyễn Huy M, ông Nguyễn Huy Đ. Tòa án cấp phúc thẩm đưa ông B, ông H, ông T, ông Đ, ông M, ông Đ vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là đúng theo quy định tại Điều 4 Nghị quyết 01/2020/NQ-HĐTP ngày 05/3/2020 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết tranh chấp về tài sản chung của dòng họ. Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội về các nội dung này là không có cơ sở.
…
[6] Như vậy, do ông B kê khai nguồn gốc đất không đúng và Hội đồng cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1992, Hội đồng đổi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2002 xã T thiếu kiểm tra, rà soát dẫn đến cấp cả diện tích đất nhà thờ của dòng họ Nguyễn H vào cho hộ ông B, cấp thiếu đất giao theo Quyết định số 721/QĐ-UBND ngày 17/9/1992 cho hộ gia đình ông B, bà Tr. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm xác định trong 1.608,3m2 đất thuộc thửa đất số 167, số 168 tờ bản đồ 04 bản đồ địa chính xã T có 210m2 đất của hộ ông B, bà Tr bị trừ vào đất của dòng họ Nguyễn H, từ đó quyết định buộc bị đơn ông Kh và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là các thành viên trong dòng họ Nguyễn H trả lại cho bà Tr 210m2 đất nông nghiệp trồng cây Hng năm là không đúng, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của dòng họ Nguyễn H.
[6] Như vậy, do ông B kê khai nguồn gốc đất không đúng và Hội đồng cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1992, Hội đồng đổi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2002 xã T thiếu kiểm tra, rà soát dẫn đến cấp cả diện tích đất nhà thờ của dòng họ Nguyễn H vào cho hộ ông B, cấp thiếu đất giao theo Quyết định số 721/QĐ-UBND ngày 17/9/1992 cho hộ gia đình ông B, bà Tr. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm xác định trong 1.608,3m2 đất thuộc thửa đất số 167, số 168 tờ bản đồ 04 bản đồ địa chính xã T có 210m2 đất của hộ ông B, bà Tr bị trừ vào đất của dòng họ Nguyễn H, từ đó quyết định buộc bị đơn ông Kh và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là các thành viên trong dòng họ Nguyễn H trả lại cho bà Tr 210m2 đất nông nghiệp trồng cây Hng năm là không đúng, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của dòng họ Nguyễn H.”