NGUỒN ÁN LỆ VỀ VIỆC ĐÒI NHÀ ĐẤT CHO Ở NHỜ (QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 26/2023/DS-GĐT)

Quyết định giám đốc thẩm số 26/2023/DS-GĐT ngày 22/4/2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội về việc đòi nhà đất cho ở nhờ.

Nội dung hủy án:

“[2] Thấy rằng, ngày 07/02/1974, vợ chồng ông Th, bà V được Sở quản lý phân phối điện khu vực I phân phối nhà với diện tích 12m2, tại số nhà 178A thuộc day nhà tập thể tại đường H, phường C, quận H, thành phố Hà Nội. Từ năm 1974 đến năm 1988 vợ chồng ông Th, bà V đã san lấp thêm được một số diện tích để trồng rau, chăn nuôi. Trong diện tích san lấp thêm đó có diện tích hiện đang tranh chấp tại số nhà 873 đường H, phường C, quận H, thành phố Hà Nội. Năm 1989, ông Th, bà V cho gia đình ông T, bà D (ông Th là em trai ông T) về ở tại diện tích đất tranh chấp. Ông T, bà D đã xây dựng nhà ở từ năm 1989 và thực hiện nghĩa vụ thuế với Nhà nước từ năm 1995. Hiện nay, phần đất tranh chấp chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và có nguồn gốc lấn chiếm đất công (đất thuộc hành lang bảo vệ đê). Như vậy, diện tích đất đang tranh chấp có nguồn gốc do khai hoang, lấn chiếm đất công và chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, khi giải quyết vụ án Tòa án phải đưa cơ quan có thẩm quyền quản lý đất đai ở địa phương tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để làm rõ loại đất, tính pháp lý và diện tích đất tranh chấp, quy hoạch sử dụng đất đối với diện tích đất có tranh chấp nêu trên. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chưa làm rõ các vấn đề nêu trên nhưng chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không đủ căn cứ và không đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự.

[3] Về nội dung: Đất tranh chấp có nguồn gốc khai hoang và lấn chiếm đất công. Năm 1989, gia đình bị đơn đã về xây nhà ở ổn định trên đất, trực tiếp quản lý, sử dụng và thực hiện nghĩa vụ thuế với Nhà nước. Trong khi đó, nguyên đơn cũng không có bất kỳ giấy tờ gì xác định quyền sử dụng hợp pháp đối với diện tích đất có tranh chấp. Vì vậy, Tòa án cần căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 101 Luật Đất đai năm 2013, các văn bản pháp luật có liên quan và hỏi ý kiến cơ quan có thẩm quyền quản lý đất đai để xác định chủ thể được quyền sử dụng đất hợp pháp mới đủ căn cứ giải quyết vụ án. Ngoài ra, cách chia hiện vật cho gia đình nguyên đơn phần đất phía ngoài giáp đường H (có giá trị lớn hơn) là chưa hợp tình, hợp lý và chưa đảm bảo quyền lợi của bị đơn là người đang trực tiếp sử dụng đất."