Mua lại cổ phần được quy định như thế nào? Điều kiện thanh toán và xử lý các cổ phần được mua lại được thực hiện ra sao?

Mua lại cổ phần được quy định như thế nào? Điều kiện thanh toán và xử lý các cổ phần được mua lại được thực hiện ra sao?

Luật sư cho tôi hỏi: Tôi hiện là cổ đông của một công ty cổ phần và không đồng ý với nghị quyết về việc tổ chức lại công ty được Đại hội đồng cổ đông thông qua. Tôi muốn yêu cầu công ty mua lại số cổ phần mình đang sở hữu. Vậy tôi cần đáp ứng điều kiện nào để công ty mua lại cổ phần tôi đang sở hữu? Ngoài ra, số cổ phần mà công ty mua lại sẽ được xử lý thế nào theo quy định của pháp luật? Rất mong Luật sư tư vấn. Xin cảm ơn!

MỤC LỤC

1. Mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông được pháp luật quy định như thế nào?

2. Công ty cổ phần thực hiện việc mua lại cổ phần theo quyết định của công ty như thế nào để đảm bảo tuân thủ pháp luật?

3. Điều kiện thanh toán và xử lý các cổ phần được mua lại thực hiện ra sao?

 

Trả lời:

1. Mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông được pháp luật quy định như thế nào?

Cổ đông của công ty cổ phần có quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần mình đang sở hữu trong một số trường hợp theo luật định. Việc mua lại cổ phần trong trường hợp này được ghi nhận tại Điều 132 Luật Doanh nghiệp năm 2020, cụ thể như sau:

"Điều 132. Mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông

1. Cổ đông đã biểu quyết không thông qua nghị quyết về việc tổ chức lại công ty hoặc thay đổi quyền, nghĩa vụ của cổ đông quy định tại Điều lệ công ty có quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần của mình. Yêu cầu phải bằng văn bản, trong đó nêu rõ tên, địa chỉ của cổ đông, số lượng cổ phần từng loại, giá dự định bán, lý do yêu cầu công ty mua lại. Yêu cầu phải được gửi đến công ty trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Đại hội đồng cổ đông thông qua nghị quyết về các vấn đề quy định tại khoản này.

2. Công ty phải mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông quy định tại khoản 1 Điều này với giá thị trường hoặc giá được tính theo nguyên tắc quy định tại Điều lệ công ty trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu. Trường hợp không thỏa thuận được về giá thì các bên có thể yêu cầu một tổ chức thẩm định giá định giá. Công ty giới thiệu ít nhất 03 tổ chức thẩm định giá để cổ đông lựa chọn và lựa chọn đó là quyết định cuối cùng."

Theo đó, cổ đông có quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần của mình khi đáp ứng những điều kiện sau:

- Căn cứ phát sinh: Cổ đông đã biểu quyết không thông qua nghị quyết về việc tổ chức lại công ty hoặc thay đổi quyền, nghĩa vụ của cổ đông tại Điều lệ công ty;

- Nội dung và hình thức: Việc yêu cầu công ty mua lại cổ phần phải được thể hiện dưới dạng văn bản. Nội dung trong văn bản này phải bao gồm: tên, địa chỉ của cổ đông, số lượng cổ phần từng loại, giá dự định bán, lý do yêu cầu công ty mua lại;

- Thời hạn: Yêu cầu phải được gửi đến công ty trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Đại hội đồng cổ đông thông qua nghị quyết về việc tổ chức lại công ty hoặc thay đổi quyền, nghĩa vụ của cổ đông tại Điều lệ công ty.

Từ những vấn đề trên, nhận thấy rằng, những quyết định về việc tổ chức lại công ty hoặc thay đổi quyền, nghĩa vụ của cổ đông tại Điều lệ công ty đều ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của cổ đông. Vì vậy, pháp luật trao cho cổ đông quyền được rút vốn để chấm dứt tư cách cổ đông nếu những định hướng kinh doanh sau khi thay đổi không phù hợp với kỳ vọng ban đầu. Bên cạnh đó, thời hạn gửi yêu cầu trong 10 ngày kể từ ngày Đại hội đồng cổ đông thông qua nghị quyết về những vấn đề trên là hoàn toàn hợp lý. Điều này sẽ góp phần bảo đảm sự ổn định tài chính cho doanh nghiệp, tránh việc cổ đông kéo dài thời gian gây gián đoạn quá trình thực hiện nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông.

Sau khi nhận được yêu cầu mua lại cổ phần của cổ đông, công ty phải mua lại số cổ phần đó với giá thị trường hoặc giá tính theo nguyên tắc ghi nhận tại Điều lệ công ty. Thời hạn thực hiện mua lại là 90 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu. Nếu hai bên không thỏa thuận được về giá thì có thể yêu cầu một tổ chức thẩm định giá định giá. Công ty giới thiệu ít nhất 03 tổ chức thẩm định giá để cổ đông lựa chọn và lựa chọn đó là quyết định cuối cùng. 

Tóm lại, pháp luật vừa bảo vệ quyền lợi của cổ đông khi không đồng thuận với những thay đổi quan trọng trong công ty, vừa đặt ra thời hạn thực hiện quyền yêu cầu để đảm bảo việc cổ đông rút khỏi công ty không làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của công ty. Ngoài ra, cơ chế thẩm định giá khi các bên không đạt được thỏa thuận giúp bảo đảm tính khách quan trong việc xác định giá mua lại, hạn chế nguy cơ công ty áp đặt mức giá bất lợi cho cổ đông hoặc cổ đông yêu cầu mức giá không hợp lý gây thiệt hại cho công ty. Nhờ đó, quyền và lợi ích hợp pháp của cả cổ đông và công ty được cân bằng trong quá trình thực hiện việc mua lại cổ phần.

2. Công ty cổ phần thực hiện việc mua lại cổ phần theo quyết định của công ty như thế nào để đảm bảo tuân thủ pháp luật?

Với mục đích thực hiện các mục tiêu tài chính, tái cơ cấu nguồn vốn hoặc điều chỉnh số lượng cổ phiếu lưu hành trên thị trường, công ty có quyền mua lại cổ phần phổ thông đã bán, một phần hoặc toàn bộ cổ phần ưu đãi cổ tức đã bán. Việc mua lại cổ phần trong trường hợp này được thực hiện theo Điều 133 Luật Doanh nghiệp năm 2020, cụ thể như sau:

"Điều 133. Mua lại cổ phần theo quyết định của công ty

Công ty có quyền mua lại không quá 30% tổng số cổ phần phổ thông đã bán, một phần hoặc toàn bộ cổ phần ưu đãi cổ tức đã bán theo quy định sau đây:

1. Hội đồng quản trị có quyền quyết định mua lại không quá 10% tổng số cổ phần của từng loại đã bán trong thời hạn 12 tháng. Trường hợp khác, việc mua lại cổ phần do Đại hội đồng cổ đông quyết định;

2. Hội đồng quản trị quyết định giá mua lại cổ phần. Đối với cổ phần phổ thông, giá mua lại không được cao hơn giá thị trường tại thời điểm mua lại, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này. Đối với cổ phần loại khác, nếu Điều lệ công ty không quy định hoặc công ty và cổ đông có liên quan không có thỏa thuận khác thì giá mua lại không được thấp hơn giá thị trường;

3. Công ty có thể mua lại cổ phần của từng cổ đông tương ứng với tỷ lệ sở hữu cổ phần của họ trong công ty theo trình tự, thủ tục sau đây:

a) Quyết định mua lại cổ phần của công ty phải được thông báo bằng phương thức để bảo đảm đến được tất cả cổ đông trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày quyết định đó được thông qua. Thông báo phải gồm tên, địa chỉ trụ sở chính của công ty, tổng số cổ phần và loại cổ phần được mua lại, giá mua lại hoặc nguyên tắc định giá mua lại, thủ tục và thời hạn thanh toán, thủ tục và thời hạn để cổ đông bán cổ phần của họ cho công ty;

b) Cổ đông đồng ý bán lại cổ phần phải gửi văn bản đồng ý bán cổ phần của mình bằng phương thức để bảo đảm đến được công ty trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày thông báo. Văn bản đồng ý bán cổ phần phải có họ, tên, địa chỉ liên lạc, số giấy tờ pháp lý của cá nhân đối với cổ đông là cá nhân; tên, mã số doanh nghiệp hoặc số giấy tờ pháp lý của tổ chức, địa chỉ trụ sở chính đối với cổ đông là tổ chức; số cổ phần sở hữu và số cổ phần đồng ý bán; phương thức thanh toán; chữ ký của cổ đông hoặc người đại diện theo pháp luật của cổ đông. Công ty chỉ mua lại cổ phần trong thời hạn nêu trên."

Theo đó, công ty có quyền mua lại không quá 30% tổng số cổ phần phổ thông đã bán, một phần hoặc toàn bộ cổ phần ưu đãi cổ tức đã bán. Việc mua lại được giới hạn tối đa 30% đối với cổ phần phổ thông nhằm đảm bảo quy mô vốn điều lệ và năng lực tài chính của doanh nghiệp không bị suy giảm đột ngột, bảo đảm sự ổn định của công ty. Bên cạnh đó, khi công ty có nguồn huy động vốn với chi phí thấp hoặc muốn giảm nghĩa vụ trả cổ tức cố định hàng năm, pháp luật cho phép công ty thu hồi lại toàn bộ loại cổ phần này. Việc công ty mua lại cổ phần trong những trường hợp trên được thực hiện như sau:

Thứ nhất, về thẩm quyền quyết định mua lại, Hội đồng quản trị có quyền quyết định mua lại không quá 10% tổng số cổ phần của từng loại đã bán trong thời hạn 12 tháng. Đại hội đồng cổ đông có thẩm quyền quyết định mua lại cổ phần trong trường hợp vượt ngoài thẩm quyền nêu trên của Hội đồng quản trị. Việc trao quyền cho Hội đồng quản trị quyết định mua lại cổ phần trong quy mô nhỏ giúp công ty linh hoạt xử lý các tình huống tài chính phát sinh nhanh chóng mà không cần phải tốn chi phí và thời gian triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông. Đối với những đợt mua lại quy mô lớn, quyền quyết định thuộc về Đại hội đồng cổ đông sẽ bảo đảm quyền tự quyết của các chủ sở hữu công ty.

Thứ hai, về xác định giá mua lại, Hội đồng quản trị là chủ thể quyết định giá mua lại cổ phần. Đối với cổ phần phổ thông, giá mua lại không được cao hơn giá thị trường tại thời điểm mua lại, trừ trường hợp mua lại cổ phần theo tỷ lệ sở hữu. Điều này sẽ hạn chế tình trạng Hội đồng quản trị hoặc cổ đông chi phối dùng tiền của công ty để mua lại cổ phần với giá cao bất thường nhằm trục lợi cá nhân, gây tổn thất cho công ty. Đối với cổ phần loại khác, trong trường hợp Điều lệ công ty không quy định hoặc công ty và cổ đông có liên quan không có thỏa thuận khác, giá mua lại không được thấp hơn giá thị trường, qua đó, bảo vệ quyền lợi của cổ đông nắm giữ cổ phần ưu đãi.

Thứ ba, công ty có thể mua lại cổ phần của từng cổ đông tương ứng với tỷ lệ sở hữu cổ phần của họ trong công ty theo trình tự, thủ tục sau đây:

- Thông báo quyết định mua lại: Quyết định mua lại cổ phần của công ty phải được thông báo bằng phương thức để bảo đảm đến được tất cả cổ đông trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày quyết định đó được thông qua. Thông báo phải gồm tên, địa chỉ trụ sở chính của công ty, tổng số cổ phần và loại cổ phần được mua lại, giá mua lại hoặc nguyên tắc định giá mua lại, thủ tục và thời hạn thanh toán, thủ tục và thời hạn để cổ đông bán cổ phần của họ cho công ty;

- Cổ đông gửi văn bản đồng ý bán: Cổ đông đồng ý bán lại cổ phần phải gửi văn bản đồng ý bán cổ phần của mình bằng phương thức để bảo đảm đến được công ty trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày thông báo. Văn bản đồng ý bán cổ phần phải có họ, tên, địa chỉ liên lạc, số giấy tờ pháp lý của cá nhân đối với cổ đông là cá nhân; tên, mã số doanh nghiệp hoặc số giấy tờ pháp lý của tổ chức, địa chỉ trụ sở chính đối với cổ đông là tổ chức; số cổ phần sở hữu và số cổ phần đồng ý bán; phương thức thanh toán; chữ ký của cổ đông hoặc người đại diện theo pháp luật của cổ đông. Công ty chỉ mua lại cổ phần trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày thông báo.

Như vậy, việc công ty mua lại cổ phần của từng cổ đông sẽ bảo đảm bình đẳng giữa tất cả các cổ đông, kể cả cổ đông nắm giữ nhiều cổ phần và cổ đông nhỏ lẻ, tránh tình trạng Hội đồng quản trị hoặc nhóm cổ đông chi phối sử dụng nguồn lực của công ty để mua lại cổ phần của một số chủ thể nhất định nhằm giúp họ rút vốn. Đồng thời, việc công khai đầy đủ về loại cổ phần được mua lại, giá mua lại, phương thức thanh toán và nguyên tắc định giá giúp cổ đông thiểu số nắm bắt thông tin. Họ có toàn quyền quyết định bán, bán một phần theo tỷ lệ được quyền bán hoặc không bán mà tiếp tục nắm giữ cổ phần.

Nhìn chung, pháp luật đã thiết lập cơ chế mua lại cổ phần theo quyết định của công ty đảm bảo đồng thời sự linh hoạt trong các quyết định quản trị nhưng vẫn đặt ra yêu cầu về thẩm quyền, tỷ lệ mua lại, giá mua và trình tự thực hiện. Những yêu cầu này vừa giúp công ty chủ động điều chỉnh cơ cấu vốn phù hợp với tình hình tài chính, vừa bảo vệ quyền lợi của cổ đông thông qua cơ chế định giá và thông báo minh bạch, hạn chế nguy cơ lạm dụng quyền quản lý hoặc phân biệt đối xử giữa các cổ đông.

3. Điều kiện thanh toán và xử lý các cổ phần được mua lại thực hiện ra sao?

Việc mua lại cổ phần không chỉ liên quan đến quyền lợi của cổ đông mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thanh toán và cơ cấu vốn của công ty. Vì vậy, các điều kiện thanh toán và yêu cầu xử lý cổ phần sau khi được mua lại được đặt ra tại Điều 134 Luật Doanh nghiệp năm 2020, cụ thể như sau:

"Điều 134. Điều kiện thanh toán và xử lý các cổ phần được mua lại

1. Công ty chỉ được thanh toán cổ phần được mua lại cho cổ đông theo quy định tại Điều 132 và Điều 133 của Luật này nếu ngay sau khi thanh toán hết số cổ phần được mua lại, công ty vẫn bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác.

2. Cổ phần được mua lại theo quy định tại Điều 132 và Điều 133 của Luật này được coi là cổ phần chưa bán theo quy định tại khoản 4 Điều 112 của Luật này. Công ty phải đăng ký giảm vốn điều lệ tương ứng với tổng mệnh giá các cổ phần được công ty mua lại trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày hoàn thành việc thanh toán mua lại cổ phần, trừ trường hợp pháp luật về chứng khoán có quy định khác.

3. Cổ phiếu xác nhận quyền sở hữu cổ phần đã được mua lại phải được tiêu hủy ngay sau khi cổ phần tương ứng đã được thanh toán đủ. Chủ tịch Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc phải liên đới chịu trách nhiệm về thiệt hại do không tiêu hủy hoặc chậm tiêu hủy cổ phiếu.

4. Sau khi thanh toán hết số cổ phần được mua lại, nếu tổng giá trị tài sản được ghi trong sổ kế toán của công ty giảm hơn 10% thì công ty phải thông báo cho tất cả chủ nợ biết trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày thanh toán hết số cổ phần được mua lại."

Dẫn chiếu đến khoản 4 Điều 112 Luật Doanh nghiệp năm 2020 được quy định như sau:

"Điều 112. Vốn của công ty cổ phần

…

4. Cổ phần chưa bán là cổ phần được quyền chào bán và chưa được thanh toán cho công ty. Khi đăng ký thành lập doanh nghiệp, cổ phần chưa bán là tổng số cổ phần các loại chưa được đăng ký mua

…"

Theo đó, về điều kiện thanh toán, công ty chỉ được thanh toán cho cổ đông số cổ phần được mua lại dưới hình thức mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông và mua lại cổ phần theo quyết định của công ty nếu ngay sau khi thanh toán hết số cổ phần đó, công ty vẫn bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác. Mua lại cổ phần bản chất là dùng tài sản của công ty để chi trả cho cổ đông rút vốn nên việc đặt nghĩa vụ trả nợ đối với bên thứ ba ưu tiên hơn so với quyền được thanh toán của cổ đông nhằm ngăn chặn nguy cơ công ty mất khả năng thanh toán sau khi mua lại cổ phần.

 Tiếp theo, cổ phần được mua lại sẽ xử lý như sau:

- Cổ phần được mua lại dưới hình thức mua lại theo yêu cầu của cổ đông hoặc mua lại theo quyết định của công ty sẽ được coi là cổ phần chưa bán, tức là cổ phần được quyền chào bán và chưa được thanh toán cho công ty. Việc công ty nắm giữ cổ phần này không được tự chia cổ tức hay thực hiện quyền biểu quyết đối với chính mình nên cơ cấu, quy mô vốn điều lệ của công ty sẽ giảm. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày hoàn thành việc thanh toán mua lại cổ phần, công ty phải đăng ký giảm vốn điều lệ tương ứng với tổng mệnh giá các cổ phần được công ty mua lại, trừ trường hợp pháp luật về chứng khoán có quy định khác. Việc đăng ký giảm vốn với cơ quan đăng ký doanh nghiệp sẽ tránh tình trạng công ty còn giữ mức vốn cao như lúc chưa mua lại cổ phần, gây hiểu lầm cho thị trường và các bên giao dịch.

- Cổ phiếu xác nhận quyền sở hữu cổ phần đã được mua lại phải được tiêu hủy ngay sau khi cổ phần tương ứng đã được thanh toán đủ. Việc tiêu hủy cổ phiếu ngay lập tức sẽ ngăn chặn hành vi dùng cổ phiếu để làm tài sản bảo đảm trái phép. Chủ tịch Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc phải liên đới chịu trách nhiệm về thiệt hại do không tiêu hủy hoặc chậm tiêu hủy cổ phiếu. Việc ràng buộc trách nhiệm bồi thường thiệt hại bằng tài sản cá nhân của Chủ tịch Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc nếu không thực hiện việc tiêu hủy cổ phiếu đúng quy định sẽ giúp siết chặt quản lý, nâng cao trách nhiệm trong quá trình xử lý cổ phần sau giao dịch, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công ty cũng như các chủ thể liên quan.

Cuối cùng, sau khi thanh toán hết số cổ phần được mua lại, nếu tổng giá trị tài sản được ghi trong sổ kế toán của công ty giảm hơn 10% thì công ty phải thông báo cho tất cả chủ nợ biết trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày thanh toán hết số cổ phần được mua lại. Mức giảm hơn 10% tổng tài sản là một biến động tài chính lớn nên việc bắt buộc thông báo trong thời hạn 15 ngày sẽ giúp chủ nợ kịp thời đánh giá lại mức độ rủi ro, đôn đốc thu hồi nợ hoặc yêu cầu bổ sung biện pháp bảo đảm nghĩa vụ trả nợ.

Như vậy, pháp luật thiết lập các yêu cầu đối với việc thanh toán và xử lý cổ phần sau khi được mua lại, từ bảo đảm khả năng thanh toán các nghĩa vụ tài sản, cập nhật vốn điều lệ đến tiêu hủy cổ phiếu xác nhận quyền sở hữu cổ phần và thông báo cho chủ nợ khi giá trị tài sản của công ty giảm đáng kể. Những quy định này góp phần bảo đảm tính minh bạch trong hoạt động doanh nghiệp, bảo vệ quyền lợi của chủ nợ và các chủ thể liên quan, đồng thời nâng cao trách nhiệm của công ty và cơ quan quản lý công ty trong quá trình thực hiện việc mua lại cổ phần.

Trân trọng./.