Thu hồi tiền thanh toán cổ phần được mua lại hoặc cổ tức được quy định như thế nào?
Thu hồi tiền thanh toán cổ phần được mua lại hoặc cổ tức được quy định như thế nào?
Luật sư cho tôi hỏi: Tôi là một trong những cổ đông của công ty cổ phần. Thời gian vừa qua, công ty vừa mua lại cổ phần của một cổ đông khác, tuy nhiên, việc mua lại cổ phần này là trái với quy định của pháp luật. Vậy trong trường hợp này, công ty có quyền thu hồi số tiền thanh toán cổ phần được mua lại không? Trách nhiệm của các bên liên quan được pháp luật xác định như thế nào? Rất mong Luật sư tư vấn. Xin cảm ơn!
MỤC LỤC
1. Cổ đông của công ty cổ phần có những nghĩa vụ nào?
2.Thu hồi tiền thanh toán cổ phần được mua lại hoặc cổ tức được quy định như thế nào?
Trả lời:
1. Cổ đông của công ty cổ phần có những nghĩa vụ nào?
Bên cạnh việc được hưởng những quyền lợi từ loại cổ phần mình đang sở hữu, cổ đông cũng phải thực hiện những nghĩa vụ nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công ty. Nghĩa vụ của cổ đông được xác định cụ thể tại Điều 119 Luật Doanh nghiệp năm 2020 như sau:
"Điều 119. Nghĩa vụ của cổ đông
1. Thanh toán đủ và đúng thời hạn số cổ phần cam kết mua.
2. Không được rút vốn đã góp bằng cổ phần phổ thông ra khỏi công ty dưới mọi hình thức, trừ trường hợp được công ty hoặc người khác mua lại cổ phần. Trường hợp có cổ đông rút một phần hoặc toàn bộ vốn cổ phần đã góp trái với quy định tại khoản này thì cổ đông đó và người có lợi ích liên quan trong công ty phải cùng liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi giá trị cổ phần đã bị rút và các thiệt hại xảy ra.
3. Tuân thủ Điều lệ công ty và quy chế quản lý nội bộ của công ty.
4. Chấp hành nghị quyết, quyết định của Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị.
5. Bảo mật các thông tin được công ty cung cấp theo quy định tại Điều lệ công ty và pháp luật; chỉ sử dụng thông tin được cung cấp để thực hiện và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; nghiêm cấm phát tán hoặc sao, gửi thông tin được công ty cung cấp cho tổ chức, cá nhân khác.
6. Nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty."
Theo đó, cổ đông của công ty cổ phần có những nghĩa vụ sau:
Thứ nhất, cổ đông có nghĩa vụ thanh toán đủ và đúng thời hạn số cổ phần cam kết mua. Đây là nghĩa vụ nền tảng của cổ đông, bởi lẽ, hoàn tất nghĩa vụ thanh toán là điều kiện tiên quyết để thông tin của cổ đông được ghi nhận, từ đó cổ đông mới được hưởng đầy đủ các quyền theo luật định. Đồng thời, việc cổ đông góp vốn đủ và đúng hạn giúp công ty có nguồn lực tài chính để triển khai các hoạt động sản xuất kinh doanh theo kế hoạch.
Thứ hai, cổ đông không được rút vốn đã góp bằng cổ phần phổ thông ra khỏi công ty dưới mọi hình thức, trừ trường hợp được công ty hoặc người khác mua lại cổ phần. Nếu cổ đông rút một phần hoặc toàn bộ vốn cổ phần đã góp trái pháp luật thì cổ đông đó và người có lợi ích liên quan trong công ty phải cùng liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi giá trị cổ phần đã bị rút và các thiệt hại xảy ra. Như vậy, pháp luật không cho phép cổ đông rút vốn trực tiếp góp phần bảo toàn quy mô vốn điều lệ, giữ vững năng lực tài chính và khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, cơ chế liên đới chịu trách nhiệm bồi thường đối với cổ đông rút vốn trái quy định và người có lợi ích từ việc rút vốn đó sẽ giúp ngăn chặn hành vi chiếm lợi từ tài sản công ty.
Thứ ba, cổ đông có nghĩa vụ tuân thủ Điều lệ công ty và quy chế quản lý nội bộ của công ty. Điều này sẽ bảo đảm mọi cổ đông dù nằm giữ số cổ phần lớn hay nhỏ đều phải hoạt động trong khuôn khổ chung, tránh sự mất ổn định hoặc lạm quyền trong nội bộ công ty.
Thứ tư, cổ đông phải chấp hành nghị quyết, quyết định của Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị. Nghĩa vụ này được đặt ra nhằm bảo đảm các quyết định được ban hành trong quá trình quản trị công ty được thực hiện thống nhất, qua đó, góp phần duy trì tính nhất quán và hạn chế những bất đồng có thể làm ảnh hưởng đến hoạt động chung của công ty.
Thứ năm, cổ đông có nghĩa vụ bảo mật các thông tin được công ty cung cấp theo quy định tại Điều lệ công ty và pháp luật; chỉ sử dụng thông tin được cung cấp để thực hiện và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; nghiêm cấm phát tán hoặc sao, gửi thông tin được công ty cung cấp cho tổ chức, cá nhân khác. Pháp luật trao cho cổ đông quyền sử dụng dữ liệu nội bộ vì mục đích bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình và để giám sát hoạt động quản trị của công ty. Tuy nhiên, để tránh trường hợp cổ đông lợi dụng quyền này làm rò rỉ bí mật công nghệ, chiến lược kinh doanh hoặc dữ liệu khách hàng cho đối thủ cạnh tranh, pháp luật nghiêm cấm hành vi phát tán thông tin ra bên ngoài gây tổn hại đến thương hiệu hoặc giá trị cổ phiếu của công ty.
Thứ sáu, cổ đông thực hiện các nghĩa vụ khác theo Luật Doanh nghiệp và Điều lệ công ty. Điều này cho phép Điều lệ công ty hoặc các văn bản pháp luật chuyên ngành quy định thêm các nghĩa vụ đặc thù phù hợp với quy mô và lĩnh vực hoạt động thực tế của từng doanh nghiệp.
Nhìn chung, pháp luật đã xác lập các nghĩa vụ cơ bản của cổ đông trong quá trình góp vốn, tham gia quản trị và thực hiện quyền sở hữu cổ phần tại công ty cổ phần. Các quy định này không chỉ bảo đảm tính nghiêm túc trong việc thực hiện cam kết góp vốn, duy trì sự ổn định của nguồn vốn và bảo vệ quyền lợi của chủ nợ mà còn góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật, bảo mật thông tin và chấp hành các quyết định quản trị trong công ty. Qua đó, pháp luật hướng đến việc cân bằng lợi ích giữa cổ đông với công ty và các chủ thể có liên quan, tạo nền tảng cho hoạt động quản trị minh bạch, ổn định và hiệu quả.
2. Thu hồi tiền thanh toán cổ phần được mua lại hoặc cổ tức được quy định như thế nào?
Việc thanh toán cổ phần được mua lại hoặc cổ tức phải tuân thủ các điều kiện của pháp luật nhằm bảo đảm quyền lợi của cổ đông, đồng thời đảm bảo tài chính và khả năng thực hiện các nghĩa vụ của công ty. Nếu các khoản thanh toán này được thực hiện trái quy định thì phải tiến hành thu hồi theo pháp luật. Việc thu hồi tiền thanh toán cổ phần được mua lại hoặc cổ tức được ghi nhận cụ thể tại Điều 136 Luật Doanh nghiệp năm 2020 như sau:
"Điều 136. Thu hồi tiền thanh toán cổ phần được mua lại hoặc cổ tức
Trường hợp việc thanh toán cổ phần được mua lại trái với quy định tại khoản 1 Điều 134 của Luật này hoặc trả cổ tức trái với quy định tại Điều 135 của Luật này, cổ đông phải hoàn trả cho công ty số tiền, tài sản khác đã nhận; trường hợp cổ đông không hoàn trả được cho công ty thì tất cả thành viên Hội đồng quản trị phải cùng liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi giá trị số tiền, tài sản đã trả cho cổ đông mà chưa được hoàn lại."
Dẫn chiếu đến khoản 1 Điều 134 và Điều 135 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định như sau:
"Điều 134. Điều kiện thanh toán và xử lý các cổ phần được mua lại
1. Công ty chỉ được thanh toán cổ phần được mua lại cho cổ đông theo quy định tại Điều 132 và Điều 133 của Luật này nếu ngay sau khi thanh toán hết số cổ phần được mua lại, công ty vẫn bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác.
…"
Và
1. Cổ tức trả cho cổ phần ưu đãi được thực hiện theo điều kiện áp dụng riêng cho mỗi loại cổ phần ưu đãi.
2. Cổ tức trả cho cổ phần phổ thông được xác định căn cứ vào số lợi nhuận ròng đã thực hiện và khoản chi trả cổ tức được trích từ nguồn lợi nhuận giữ lại của công ty. Công ty cổ phần chỉ được trả cổ tức của cổ phần phổ thông khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Công ty đã hoàn thành nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật;
b) Đã trích lập các quỹ công ty và bù đắp lỗ trước đó theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty;
c) Ngay sau khi trả hết số cổ tức, công ty vẫn bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác đến hạn.
3. Cổ tức có thể được chi trả bằng tiền mặt, bằng cổ phần của công ty hoặc bằng tài sản khác quy định tại Điều lệ công ty. Nếu chi trả bằng tiền mặt thì phải được thực hiện bằng Đồng Việt Nam và theo các phương thức thanh toán theo quy định của pháp luật.
4. Cổ tức phải được thanh toán đầy đủ trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày kết thúc họp Đại hội đồng cổ đông thường niên. Hội đồng quản trị lập danh sách cổ đông được nhận cổ tức, xác định mức cổ tức được trả đối với từng cổ phần, thời hạn và hình thức trả chậm nhất là 30 ngày trước mỗi lần trả cổ tức. Thông báo về trả cổ tức được gửi bằng phương thức để bảo đảm đến cổ đông theo địa chỉ đăng ký trong sổ đăng ký cổ đông chậm nhất là 15 ngày trước khi thực hiện trả cổ tức. Thông báo phải bao gồm các nội dung sau đây:
a) Tên công ty và địa chỉ trụ sở chính của công ty;
b) Họ, tên, địa chỉ liên lạc, quốc tịch, số giấy tờ pháp lý của cá nhân đối với cổ đông là cá nhân;
c) Tên, mã số doanh nghiệp hoặc số giấy tờ pháp lý của tổ chức, địa chỉ trụ sở chính đối với cổ đông là tổ chức;
d) Số lượng cổ phần từng loại của cổ đông; mức cổ tức đối với từng cổ phần và tổng số cổ tức mà cổ đông đó được nhận;
đ) Thời điểm và phương thức trả cổ tức;
e) Họ, tên, chữ ký của Chủ tịch Hội đồng quản trị và người đại diện theo pháp luật của công ty.
5. Trường hợp cổ đông chuyển nhượng cổ phần của mình trong thời gian giữa thời điểm kết thúc lập danh sách cổ đông và thời điểm trả cổ tức thì người chuyển nhượng là người nhận cổ tức từ công ty.
6. Trường hợp chi trả cổ tức bằng cổ phần, công ty không phải làm thủ tục chào bán cổ phần theo quy định tại các điều 123, 124 và 125 của Luật này. Công ty phải đăng ký tăng vốn điều lệ tương ứng với tổng mệnh giá các cổ phần dùng để chi trả cổ tức trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày hoàn thành việc thanh toán cổ tức."
Theo đó, nếu việc thanh toán cổ phần được mua lại trái với điều kiện thanh toán hoặc trả cổ tức trái với Luật Doanh nghiệp năm 2020 thì cổ đông phải hoàn trả cho công ty số tiền, tài sản khác đã nhận. Điều này được đặt ra nhằm khắc phục hậu quả của việc chi trả không đúng pháp luật, đặc biệt trong trường hợp việc thanh toán làm ảnh hưởng đến khả năng thực hiện các nghĩa vụ tài chính của công ty.
Trong trường hợp cổ đông không hoàn trả được cho công ty thì tất cả thành viên Hội đồng quản trị phải cùng liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số tiền, tài sản đã trả cho cổ đông mà chưa được hoàn lại. Hội đồng quản trị là chủ thể có thẩm quyền quyết định hoặc trình quyết định về việc trả cổ tức và mua lại cổ phần. Do đó, việc buộc tất cả thành viên Hội đồng quản trị phải liên đới chịu trách nhiệm nếu cổ đông không hoàn trả lại tiền sẽ tạo áp lực lớn, nhờ vậy, ngăn chặn các quyết định thiếu cẩn trọng, cũng như việc đưa ra quyết định trái pháp luật vì lợi ích cá nhân.
Như vậy, cơ chế thu hồi tiền thanh toán cổ phần mua lại hoặc cổ tức góp phần bảo toàn nguồn tài chính của công ty, bảo vệ quyền lợi của chủ nợ và các chủ thể liên quan. Đồng thời, cơ chế này góp phần nâng cao trách nhiệm của cổ đông và các cấp quản trị của công ty trong việc tuân thủ các điều kiện pháp luật về mua lại cổ phần và chi trả cổ tức.
Trân trọng./.