Thông báo rút kinh nghiệm số 109/TB-VKSTC ngày 28/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về nghiệp vụ kiểm sát thi hành án dân sự, thi hành án hành chính
THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM SỐ 109/TB-VKSTC NGÀY 28/5/2024 CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ NGHIỆP VỤ KIỂM SÁT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ, THI HÀNH ÁN HÀNH CHÍNH
Nội dung vấn đề cần rút kinh nghiệm:
I. Đối với công tác kiểm sát thi hành án dân sự
Thông qua trực tiếp kiểm sát tại các cơ quan THADS và kiểm sát các hồ sơ THADS do VKSND tối cao (Vụ 11) yêu cầu cung cấp hồ sơ để kiểm sát, thấy: một số VKSND các địa phương chưa kịp thời phát hiện vi phạm của Chấp hành viên (CHV), Cơ quan THADS, cơ quan, tổ chức có liên quan, trong đó có một số vi phạm mang tính phổ biến, như:
1. CHV không thực hiện đầy đủ trách nhiệm theo quy định tại khoản 2 Điều 20 Luật THADS trong việc áp dụng đúng các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục THA để xác minh làm rõ, giải quyết các vấn đề liên quan đến việc xác định quyền sở hữu, sử dụng tài sản của người phải thi hành án (THA) trước khi thực hiện việc cưỡng chế kê biên tài sản, như:
+ Vi phạm điểm b, đ khoản 4 Điều 44 Luật THADS: CHV không xác minh cụ thể tài sản, không yêu cầu cơ quan chuyên môn, thuê chuyên gia để làm rõ các nội dung cần xác minh liên quan đến tài sản của người phải THA. Dẫn đến, có trường hợp kê biên tài sản đã được chuyển nhượng hợp pháp cho người khác. Hoặc qua kết quả kiểm tra hiện trạng tài sản, CHV đã biết rõ tài sản kê biên có nhiều vi phạm về trật tự xây dựng, nhưng CHV không xác minh cụ thể tài sản, những vấn đề pháp lý liên quan đến quyền sở hữu, sử dụng tài sản và việc xử lý công trình vi phạm trật tự xây dựng để xác định công trình xây dựng này được tồn tại hay phải phá dỡ; có đủ điều kiện hay không đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng, quyền sở hữu, làm cơ sở cho việc kê biên, thẩm định giá, bán đấu giá tài sản.
+ Theo quy định tại Điều 111 và Điều 114 Bộ luật Dân sự, tài sản là “vật không chia được” hoặc “vật đồng bộ”, nếu bị phân chia sẽ không bảo toàn được tính chất và tính năng sử dụng ban đầu, bị giảm đáng kể giá trị sử dụng. Tuy nhiên, trước khi ra Quyết định cưỡng chế kê biên tài sản là “vật không chia được” hoặc “vật đồng bộ”,
CHV không lấy ý kiến của những người liên quan để xác định rõ phần tài sản của người phải THA hoặc phân chia, giải quyết tranh chấp tài sản chung theo quy định tại Điều 74 hoặc Điều 75 Luật THADS; không thực hiện việc kê biên tài sản theo quy định tại Điều 94, khoản 2 Điều 95 Luật THADS mà ra Quyết định cưỡng chế kê biên và thực hiện việc kê biên, bán đấu giá một phần tài sản để THA, làm giảm công năng sử dụng, giảm đáng kể giá trị tài sản kê biên, phần tài sản còn lại (không kê biên) cũng bị giảm giá trị, thậm chí có trường hợp làm mất công năng sử dụng. Ví dụ: chia tách tài sản là toà nhà cao tầng có kết cấu chung tầng hầm, chung hệ thống điện, nước, cầu thang bộ, cầu thang máy.....
+ Vi phạm điểm d khoản 1 Điều 48 Luật THADS: Quá trình tổ chức THA, mặc dù đã biết Toà án có thông báo thụ lý giải quyết tranh chấp đối với tài sản kê biên, nhưng CHV không báo cáo đề xuất Thủ trưởng Cơ quan THADS ra quyết định hoãn THA mà vẫn tổ chức cưỡng chế, kê biên, thẩm định giá và bán đấu giá tài sản. Khi Toà án xét xử, xác định tài sản đã kê biên có tranh chấp không thuộc quyền sở hữu, sử dụng của người phải THA
2. Vi phạm Điều 89 Luật THADS: Trước khi kê biên tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc đăng ký giao dịch bảo đảm, CHV không yêu cầu cơ quan đăng ký cung cấp thông tin về tài sản đã đăng ký (Vi phạm khoản 1 Điều 89). Sau khi kê biên tài sản, CHV không có văn bản thông báo cho cơ quan đăng ký về việc kê biên tài sản đó để xử lý theo quy định tại khoản 1 Điều 178 của Luật THADS (Vi phạm khoản 2 Điều 89).
3. Vi phạm khoản 2 Điều 88 và khoản 1, 3 Điều 111 Luật THADS: Khi tiến hành kê biên tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất, CHV không yêu cầu người phải THA, người đang quản lý giấy tờ về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền trên đất nộp các giấy tờ đó cho Cơ quan THADS. Nội dung Biên bản kê biên không mô tả cụ thể tình trạng tài sản, vị trí, ranh giới của các thửa đất theo quy định; cá biệt có Biên bản kê biên thể hiện “có sơ đồ đo đạc kèm theo ” (nhưng thực tế không có sơ đồ kèm theo). Nhiều vụ việc, CHV kê biên không đúng, không đầy đủ tài sản theo thực trạng, nhất là các tài sản có giá trị lớn được lắp đặt, gắn liền trong các toà nhà cao tầng như: Thang máy, hệ thống điều hoà âm trần, hệ thống máy phát điện...
4. Vi phạm khoản 3 Điều 58 và khoản 1, 2, 3 Điều 112 Luật THADS: Sau khi kê biên là quyền sử dụng đất, CHV không lập biên bản tạm giao quản lý, khai thác, sử dụng diện tích đất đã kê biên theo quy định. Nhiều trường hợp, tại buổi kê biên tài sản, người phải THA vắng mặt (trước đó CHV lập Biên bản xác minh đương sự không có mặt tại địa phương, đã thông báo về sự vắng mặt của người phải THA trên 02 số báo liên tiếp), nhưng CHV vẫn lập Biên bản giao tài sản kê biên với nội dung “Đoàn cưỡng chế thống nhất giao tài sản đã kê biên cho người phải THA trông coi bảo quản” không có chữ ký nhận của người phải THA; Kiểm sát viên tham gia kiểm sát việc cưỡng chế kê biên cũng ký vào Biên bản giao tài sản kê biên.
5. Vi phạm Điều 98 Luật THADS: Ngay sau khi kê biên tài sản, CHV không lập biên bản ghi nhận ý kiến của đương sự thỏa thận về giá tài sản kê biên hoặc tổ chức thẩm định giá (Vi phạm khoản 1 Điều 98).
CHV thực hiện không đúng về thời hạn ký hợp đồng dịch vụ thẩm định giá (Vi phạm khoản 2 Điều 98). Thực tế, có trường hợp CHV ký hợp đồng thẩm định giá tài sản kê biên quá hạn gần 02 năm; có trường hợp ký hợp đồng thẩm định giá với tổ chức không có chức năng thẩm định giá...
6. Vi phạm điểm b khoản 1 Điều 99 Luật THADS: CHV ký hợp đồng dịch vụ thẩm định giá lại theo đơn yêu cầu của người được THA đã quá thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được thông báo về kết quả thẩm định giá.
7. Vi phạm điểm b khoản 5 Điều 10 Luật Giá năm 2012; khoản 3, khoản 5 Điều 20 Nghị định số 109/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý giá, phí, lệ phí, hóa đơn: CHV cung cấp không chính xác, không đầy đủ thông tin, tài liệu liên quan đến tài sản kê biên cần thẩm định giá cho Tổ chức thẩm định giá.
8. CHV không thực hiện trách nhiệm của người có tài sản trong việc thẩm định giá tài sản THA, nên không kịp thời phát hiện vi phạm của Tổ chức thẩm định để có biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật.
Cụ thể: Trước khi thẩm định giá, Tổ chức thẩm định giá đã xem xét hiện trạng tài sản, xác định trên đất có công trình xây dựng không phép. Nhưng khi thẩm định giá tài sản, Tổ chức thẩm định giá đã định giá ngang bằng với giá trị công trình xây dựng có phép và không có tài liệu thể hiện việc so sánh, đánh giá, phân tích giữa tài sản thẩm định giá với 03 tài sản so sánh (Vi phạm điểm g khoản 6 mục II Hệ thống tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam ban hành kèm theo Thông tư số 126/2015/TT-BTC ngày 20/8/2015 của Bộ Tài chính). Tuy nhiên, CHV không yêu cầu Tổ chức thẩm định giá giải trình mà vẫn chấp nhận giá thẩm định làm giá khởi điểm để đưa ra bán đấu giá.
9. Vi phạm khoản 1 Điều 56 Luật Đấu giá tài sản năm 2016 (sau đây gọi là Luật Đấu giá tài sản) và tiểu mục 1.2 Công văn số 957/BT-BTTP ngày 17/3/2020 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp: CHV không thực hiện đúng quy định về việc thông báo công khai trên trang thông tin điện tử của cơ quan THADS và trang thông tin điện tử chuyên ngành về đấu giá tài sản về việc lựa chọn Tổ chức đấu giá tài sản.
10. Vi phạm khoản 2 Điều 101 Luật THADS: CHV ký hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản quá hạn. Đây là vi phạm phổ biến ở hầu hết cơ quan THADS các cấp. Cá biệt, có trường hợp ký hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản quá hạn gần 02 năm, kể từ ngày có Chứng thư thẩm định giá.
…