ĐỀ XUẤT ÁN LỆ VỀ TIỀN CÔNG QUẢN LÝ, BẢO QUẢN DI SẢN TRONG TRƯỜNG HỢP NGƯỜI QUẢN LÝ DI SẢN KHÔNG CÓ TÀI LIỆU CHỨNG MINH CHI PHÍ QUẢN LÝ DI SẢN

Tình huống pháp lý:

Trong thực tiễn giải quyết tranh chấp thừa kế, nhất là đối với nhà ở, quyền sử dụng đất, thường phát sinh trường hợp người được hưởng di sản không trực tiếp quản lý tài sản trong thời gian dài, trong khi người khác thực tế cư trú, trông coi, bảo quản di sản nhiều năm liên tục.

Bộ luật Dân sự năm 2015 đã ghi nhận vai trò của người quản lý di sản thông qua các quy định về quyền và nghĩa vụ của chủ thể này. Theo tinh thần của Điều 618 Bộ luật Dân sự, người quản lý di sản có quyền được thanh toán chi phí bảo quản di sản. Đồng thời, Điều 658 Bộ luật Dân sự cũng xác định các khoản chi phí liên quan đến việc bảo quản di sản được ưu tiên thanh toán từ khối di sản trước khi thực hiện việc phân chia thừa kế. Tuy nhiên, về thực tiễn, không ít trường hợp người bảo quản di sản không lưu trữ hóa đơn, chứng từ hoặc các tài liệu khác chứng minh các khoản chi cụ thể để bảo quản tài sản, mặc dù trên thực tế họ đã trực tiếp quản lý, bảo quản tài sản trong thời gian dài, dẫn đến khó khăn trong việc bảo đảm quyền lợi của mình khi xảy ra tranh chấp.

Hiện nay đang tồn tại hai quan điểm pháp lý khác nhau liên quan đến tình huống pháp lý này:

Quan điểm thứ nhất: yêu cầu thanh toán cho người quản lý di sản chỉ được chấp nhận khi họ chứng minh được các khoản chi phí thực tế đã bỏ ra. Theo cách tiếp cận này, nghĩa vụ chứng minh thuộc về người yêu cầu, và nếu không có hóa đơn, chứng từ hoặc các tài liệu chứng minh cụ thể thì yêu cầu thanh toán phải bị bác. Quan điểm này dựa trên nguyên tắc chứng minh trong tố tụng dân sự và bảo đảm sự minh bạch trong việc xác định các nghĩa vụ tài sản giữa các bên. Tuy nhiên, cách tiếp cận này lại gặp khó khăn khi áp dụng đối với những trường hợp việc quản lý tài sản kéo dài nhiều năm, thậm chí nhiều thập niên. Trong bối cảnh đó, việc lưu giữ chứng từ hoặc xác định chính xác từng khoản chi phí là điều gần như không thể thực hiện được. Nếu chỉ dựa trên tiêu chí chứng minh chi phí cụ thể, công sức thực tế của người quản lý di sản có nguy cơ không được ghi nhận.

Quan điểm thứ hai: Bên cạnh việc hoàn trả chi phí thực tế, pháp luật cần thừa nhận giá trị của công sức quản lý, trông coi và bảo quản tài sản. Việc bảo quản di sản không chỉ bao gồm các khoản tiền bỏ ra để sửa chữa hoặc cải tạo mà còn bao gồm thời gian, công sức, trách nhiệm và những lợi ích mà người quản lý đã đóng góp để duy trì sự tồn tại và giá trị của tài sản. Trong nhiều trường hợp, nếu không có sự hiện diện và quản lý liên tục của họ thì tài sản có thể bị xuống cấp nghiêm trọng, bị chiếm dụng hoặc phát sinh các tranh chấp khác. Vì vậy, việc ghi nhận một khoản thù lao hoặc một phần giá trị tài sản tương ứng với công sức quản lý được xem là phù hợp với nguyên tắc công bằng và thiện chí trong quan hệ dân sự.

Nội dung đề xuất án lệ:

“[4] Quá trình Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết vụ án, ông H1 có các yêu cầu phản tố, trong đó có yêu cầu là nếu không hủy hợp đồng mua bán nhà giữa ông N và ông D thì đề nghị Tòa án buộc ông N phải bồi thường toàn bộ chi phí tôn tạo, sửa chữa nhà mà phía bị đơn đã thực hiện trong thời gian quản lý, sử dụng là 3.000.000.000 đồng. Xét ông H1 không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh chỉ phí xây dựng, sửa chữa, tôn tạo căn nhà; theo Biên bản thẩm định tại chỗ ngày 06/12/2024 thì hiện trạng căn nhà so với thông tin ghi trong “Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở” cấp năm 2007 thì chỉ có thay đổi ở phần sân thượng là dựng thêm một phần nhà bằng vật liệu nhôm kính, kích thước 2,8m x 03m, nên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của ông H1 đòi nguyên đơn phải bồi thường số tiền 03 tỷ đồng là có căn cứ. Tuy nhiên, ông H1 đã ở trong căn nhà số 175/10 Lê Hồng P từ năm 1988; sau khi cụ N3 qua đời thì ông H1 chính là người quản lý, trông coi căn nhà. Như vậy, ông H1 đã có quá trình cư trú, quản lý, trông coi căn nhà trong suốt thời gian gần 40 năm, trong khi ông N hoàn toàn không có quá trình quản lý, trông coi căn nhà. Vì vậy, khi ông N được hưởng thừa kế theo di chúc đối với toàn bộ giá trị nhà đất thì cần thiết phải buộc ông N trích chia một phần giá trị nhà đất cho ông H1 để trả công quản lý, bảo quản di sản mới hợp lý và đảm bảo lẽ công bằng.”.