Đề xuất Án lệ về quyền sử dụng chung mỏ nước tự nhiên
ĐỀ XUẤT ÁN LỆ VỀ QUYỀN SỬ DỤNG CHUNG MỎ NƯỚC TỰ NHIÊN
Tình huống pháp lý:
Luật tài nguyên nước năm 2012 quy định việc điều hòa, phân phối tài nguyên nước cho các mục đích sử dụng phải căn cứ vào khả năng thực tế của nguồn nước, đảm bảo nguyên tắc công bằng, hợp lý giữa các cá nhân sử dụng nước; ưu tiên về số lượng, chất lượng nước cho sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp góp phần bảo đảm an ninh lương thực. Thực tế, có trường chủ sử dụng thửa đất ruộng có nguồn nước tự nhiên ở trên phần đất là gianh giới với thửa ruộng vẫn lấy nước từ nguồn nước này tưới cho cây; Đồng thời, gia đình ở gần đó (không có phần đất tiếp giáp xung quanh mỏ nước) cũng có hành vi khai thác, sử dụng ổn định, lâu dài nguồn nước tại mỏ nước tự nhiên này để dùng làm nước sinh hoạt và đã xây dựng công trình kiên cố trên phần đất. Người chủ sử dụng phần đất ruộng biết nhưng không có ý kiến hoặc tranh chấp gì. Khi nguồn nước dần cạn kiệt, không đủ cung cấp nước cho thửa ruộng ngay cạnh nguồn nước thì chủ sử dụng thửa đất ruộng yêu cầu người đang khai thác nguồn nước để sử dụng vào mục đích sinh hoạt không được phép khai thác nữa. Trong trường hợp này hiện vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về việc xác định ai là người có quyền khai thác, sử dụng nguồn nước. Có quan điểm cho rằng cả hai bên đều có quyền khai thác, sử dụng chung nguồn nước. Có quan điểm cho rằng vì nguồn nước nằm trên phần đất tiếp giáp với đất ruộng nên người chủ sử dụng phần đất ruộng có quyền khai thác, sử dụng nguồn nước. Quan điểm khác lại cho rằng người khai thác nguồn nước để phục vụ vào mục đích sinh hoạt đã khai thác và xây dựng công trình kiên cố nhưng không ai có ý kiến gì, hơn nữa nhà nước ưu tiên việc khai thác nguồn nước vào mục đích sinh hoạt nên họ có quyền khai thác, sử dụng nguồn nước.
Nội dung đề xuất án lệ:
“[4]. Về nội dung và đường lối giải quyết vụ án: Xét yêu cầu được sử dụng toàn bộ mỏ nước tự nhiên nằm ở chân thửa đất số 115, tờ bản đồ số 62, diện tích 263,3m2 của gia đình bà Noọng, Hội đồng xét xử nhận định:
Về nguồn gốc mỏ nước tự nhiên đã có từ lâu, do thiếu nước sinh hoạt nên gia đình ông Sỹ và ông Thái bắt đầu khai thác, cải tạo, đầu tư ống dẫn nước để đưa nước về phục vụ sinh hoạt gia đình từ năm 1997 đến nay. Đây là mỏ nước tự nhiên, việc khai thác, sử dụng nước phục vụ cho gia đình thuộc trường hợp không phải đăng ký, không phải xin phép theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 44 của Luật Tài nguyên nước. Tuy nhiên, theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ thấy rằng, vị trí mỏ nước tự nhiên nằm ở bờ của thửa số 115, tờ bản đồ số 62, diện tích 263,3m2 đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình bà Bạch Thị Noọng, do đó mỏ nước này được xác định là nằm trên ranh giới của thửa đất nên gia đình bà Noọng có quyền khai thác, sử dụng chung mỏ nước này. Gia đình ông Sỹ, ông Thái tuy không có phần đất tiếp giáp xung quanh mỏ nước nhưng trên thực tế đã có quá trình khai thác, sử dụng ổn định, lâu dài nguồn nước tại mỏ này để phục vụ nước sinh hoạt, việc sử dụng mỏ nước này gia đình bà Noọng và mọi người cùng xóm đều biết, không ai có ý kiến hoặc tranh chấp. Việc gia đình ông Sỹ, ông Thái khai thác, sử dụng là phù hợp quy định tại các Điều 43, 44 và 45 của Luật Tài nguyên nước. Gần mỏ nước có khe mương dẫn nước xuống khu vực phía dưới có các đám ruộng của gia đình bà Noọng với khoảng cách từ mỏ nước tự nhiên đến các đám ruộng khoảng 100m, hiện trạng mương khô không có nước chảy, các bên đều thừa nhận trước đây nước còn nhiều chảy theo khe mương này dẫn xuống các đám ruộng. Việc gia đình bà Noọng yêu cầu được sử dụng chung nguồn nước tự nhiên này để phục vụ sản xuất nông nghiệp là phù hợp với quy định tại Điều 46 Luật Tài nguyên nước.
Xét thấy, nguồn nước tự nhiên là tài nguyên thiên nhiên thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện sở hữu, các cá nhân đều có quyền khai thác, sử dụng nhưng phải đúng mục đích, có hiệu quả theo quy định các Điều 197, 199 và 203 của Bộ luật Dân sự 2015. Việc gia đình ông Sỹ, ông Thái cho rằng gia đình đã khai thác, sử dụng từ năm 1997 không ai có ý kiến nên trát xi măng, ốp đá bịt kín hoàn toàn nguồn nước, không nhất trí cho gia đình bà Noọng sử dụng chung là không hợp lý. Bởi lẽ, nguồn nước này là nguồn nước ngầm tự nhiên, được chảy ra từ bờ của thửa đất gia đình bà Noọng, lượng nước chảy ra phụ thuộc vào thiên nhiên, hơn nữa, nước là tài nguyên quốc gia không phải sở hữu riêng của ai, do đó các bên đều có quyền khai thác, sử dụng chung. Tại Điều 54 của Luật Tài nguyên nước năm 2012 quy định việc điều hòa, phân phối tài nguyên nước cho các mục đích sử dụng phải căn cứ vào khả năng thực tế của nguồn nước, đảm bảo nguyên tắc công bằng, hợp lý giữa các cá nhân sử dụng nước; ưu tiên về số lượng, chất lượng nước cho sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp góp phần bảo đảm an ninh lương thực; tại khoản 2 Điều 54 Luật này quy định: “2. Trong trường hợp thiếu nước, việc điều hòa, phân phối phải ưu tiên cho mục đích sinh hoạt; các mục đích sử dụng khác phải được điều hòa, phân phối theo quy định…”. Kết quả thẩm định tại chỗ cho thấy lượng nước dẫn về nhà ông Sỹ, ông Thái đảm bảo đủ để sinh hoạt gia đình, dòng chảy nước tuy không mạnh nhưng liên tục, ông Sỹ, ông Thái cũng thừa nhận thời điểm nước nhiều có chia cho các anh em trong xóm cùng sử dụng; ngoài ra tại mỏ nước ngầm dưới đường dân sinh do ông Sỹ, ông Thái xây kín cũng đặt 01 ống sắt để nước chảy ra ngoài, như vậy gia đình ông Sỹ, ông Thái không thuộc trường hợp thiếu nước sinh hoạt; tuy nhiên các bên đều thừa nhận có tình trạng thiếu nước vào mùa khô, do đó để đảm bảo nước sinh hoạt trong mùa khô cần ưu tiên nước cho sinh hoạt việc chia nguồn nước mỏ trên thành 03 đường dẫn nước từ mỏ, trong đó 02 đường nước cho gia đình ông Sỹ, ông Thái phục vụ sinh hoạt gia đình và 01 đường nước cho gia đình bà Noọng sản xuất nông nghiệp là phù hợp với thực tế, vì nước để sinh hoạt hàng ngày cần thiết hơn cho việc canh tác theo mùa vụ. Về phía gia đình bà Noọng cho rằng ảnh hưởng đến 07 đám ruộng nhưng khi thẩm định tại chỗ chỉ có 02 đám ruộng bị ảnh hưởng, vì cây lúa chưa trổ bông, còn các đám ruộng xung quanh thì vẫn phát triển tốt, do đó tuy có ảnh hưởng nhưng không thể xác định chính xác mức độ ảnh hưởng của nguồn nước mỏ tự nhiên đến việc canh tác các đám ruộng của hộ gia đình bà Noọng, bởi việc canh tác ruộng cũng cần sử dụng nước mưa là nguồn nước tự nhiên phụ thuộc vào thời tiết. Như vậy, để đảm bảo nguyên tắc công bằng, hợp lý trong việc điều hòa, phân phối nguồn tài nguyên nước tự nhiên phục vụ cho mục đích sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp của gia đình ông Sỹ, ông Thái và gia đình bà Noọng, việc khai thác, sử dụng chung mỏ nước tự nhiên bằng việc chia thành 03 đường dẫn nước cho các hộ gia đình là hợp lý và hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật.”