ĐỀ XUẤT ÁN LỆ VỀ HỢP ĐỒNG TẶNG CHO TÀI SẢN GIỮA CHA MẸ VÀ CON TRONG TRƯỜNG HỢP TÀI SẢN TẶNG CHO LÀ TÀI SẢN DUY NHẤT CỦA CHA MẸ

Tình huống pháp lý:

Bộ luật dân sự đã quy định khá đầy đủ, rõ ràng về các loại Hợp đồng tặng cho tài sản. Tuy nhiên, trong thực tiễn có nhiều trường hợp cha mẹ đã tặng cho quyền sử dụng diện tích đất duy nhất của mình cho con và xác định sẽ ở chung cùng với con. Trong Hợp đồng tặng cho không có điều khoản nào quy định điều kiện người con phải có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng, đối xử tốt với cha mẹ. Sau khi người con được cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và xây nhà trên thửa đất đó, giữa cha mẹ mới con cái phát sinh mâu thuẫn không thể ở chung cùng với nhau, người con không thực hiện đúng trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng, đối xử tốt với bố mẹ. Vậy khi người con vi phạm đạo đức, bất hiếu với cha mẹ thì cha mẹ có quyền đòi lại tài sản mình đã tặng cho con hay không? Hiện vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau. Có quan điểm cho rằng mặc dù trong Hợp đồng tặng cho không thể hiện rõ điều kiện là người con phải có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng, đối xử tốt với cha mẹ thì Hợp đồng tặng cho mới có hiệu lực nhưng cần xác định trách nhiệm của con cái là phải chăm sóc, phụng dưỡng cha mẹ, đó là truyền thống đạo lý của người Việt Nam. Khi con cái không thực hiện đúng trách nhiệm, hiếu nghĩa với cha mẹ, thì Tòa án cần hủy Hợp đồng tặng cho để chia lại cho cha mẹ một phần diện tích đất để cha mẹ có chỗ ở. Có quan điểm cho rằng mặc dù hợp đồng tặng cho không có ghi điều kiện nên có hiệu lực, không có căn cứ để hủy hợp đồng đó.

Nội dung đề xuất án lệ:

[2] Đối với nội dung kháng cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Đúng là Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng thửa đất số 347 tờ bản đồ 24 tại khu 13, xã Hanh Cù, huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ và tài sản gắn liền với đất lập ngày 27/12/2019 giữa bà Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn T1 không có điều khoản nào thể hiện về điều kiện tặng cho, nhưng với việc bà Hồng tặng cho anh Nguyễn Văn T1 toàn bộ đất đai, nhà cửa là tài sản duy nhất của mình đang sử dụng để ở chung với anh Nguyễn Văn T1, chị Bùi Hồng N thì rõ ràng việc tặng cho này phải được hiểu là có điều kiện; điều kiện đó là anh Nguyễn Văn T1 phải có nghĩa vụ chăm sóc, phụng dưỡng mẹ lúc tuổi già, là điều kiện về mặt đạo lý và cũng là bổn phận của người con đối với cha mẹ. Tuy nhiên, trên thực tế anh Nguyễn Văn T1 và chị Bùi Hồng N là con trai, con dâu đã không làm tròn đạo nghĩa, không làm tròn phận sự của người con đối với cha mẹ mà lại có những hành xử đi ngược lại với truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam. Lời trình bày của chị Bùi Hồng N có ý đổ lỗi cho bà Nguyễn Thị H và cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn hiện nay là do bà Nguyễn Thị H là không là có cơ sở bởi những hành xử không đúng của anh Nguyễn Văn T1, chị Bùi Hồng N đều có hàng xóm, chính quyền, khu dân cư chứng kiến can thiệp và phản ánh. Do bà Nguyễn Thị H không ở chung nhà được với anh Nguyễn Văn T1, chị Bùi Hồng N, bà Nguyễn Thị H lại nhất quyết không về ở với những người con khác nên Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định cắt cho bà Nguyễn Thị H 200,8 m2 đất (trong đó có 100 m2 đất ở và 100,8 m2 đất cây lâu năm) để bà Nguyễn Thị H có chỗ ở. Giao cho anh Nguyễn Văn T1 564,0 m2 đất (trong đó có 300 m2 đất ở và 264 m2 đất cây lâu năm) là nhân văn, hợp đạo lý. Việc hủy hợp đồng tặng cho là không cần thiết, tuy nhiên cấp sơ thẩm đã cắt lại cho bà Nguyễn Thị H một phần đất là phù hợp, nên việc hủy hợp đồng không làm thay đổi bản chất vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Văn T1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.”