ĐỀ XUẤT ÁN LỆ VỀ VIỆC CHIA THỪA KẾ: TÒA ÁN CÓ PHẢI XEM XÉT KHẢ NĂNG THI HÀNH ÁN CỦA NGƯỜI ĐƯỢC NHẬN HIỆN VẬT VÀ PHẢI THANH TOÁN GIÁ TRỊ CHO NGƯỜI CÒN LẠI KHÔNG?

Tình huống pháp lý:

Theo quy định tại khoản 2 Điều 660 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì “Những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản bằng hiện vật; nếu không thể chia đều bằng hiện vật thì những người thừa kế có thể thỏa thuận về việc định giá hiện vật và thỏa thuận về người nhận hiện vật; nếu không thỏa thuận được thì hiện vật được bán để chia.” Tuy nhiên, pháp luật không chỉ rõ là trong trường hợp tranh chấp về thừa kế tài sản giải quyết tại Tòa án, trước khi quyết định giao cho một người thừa kế được nhận tài sản bằng hiện vật và buộc người đó thanh toán giá trị kỷ phần thừa kế cho người còn lại thì Tòa án có phải xem xét đến khả năng thi hành án của người được nhận hiện vật hay không? Có quan điểm cho rằng, việc xem xét khả năng thi hành án này là cần thiết, để bảo đảm bản án có thể thi hành được, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người thừa kế. Quan điểm khác cho rằng, việc xem xét khả năng thi hành án của người này không phải là việc của Tòa án mà là việc của cơ quan thi hành án; trường hợp họ không có khả năng thanh toán giá trị cho người thừa kế còn lại thì cơ quan thi hành án hoàn toàn có thể kê biên, phát mại di sản thừa kế mà người đó được nhận để bảo đảm thi hành án; Tòa án không làm thay việc của cơ quan thi hành án.

Nội dung đề xuất án lệ:

“[2] Quá trình giải quyết tại Tòa án cấp sơ thẩm, bà Vương Thị N, ông Vương Minh T yêu cầu chia tài sản trên làm 07 phần cho các đồng thừa kế được hưởng thừa kế; bà N, ông T yêu cầu nhận 01 kỷ phần bằng quyền sử dụng đất; bà Trần Thị Thanh P, ông Vương Anh T1, bà Vương Minh Anh T2 yêu cầu nhận 01 kỷ phần thừa kế của ông Vương Minh N2 bằng giá trị đất. Các đồng thừa kế còn lại của cụ M2, cụ S1 chưa có yêu cầu chia thừa kế. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử chia cho bà N nhận 3 kỷ phần thừa kế gồm 01 kỷ phần của bà N, 01 kỷ phần của ông T, 01 kỷ phần của bà P1, ông T1, bà T2 và buộc bà N hoàn giá trị kỷ phần cho ông T và bà P1, ông T1, bà T2 mỗi kỷ phần là 8.148.250.714 đồng là không phù hợp với điều kiện kinh tế hiện tại của bà N, cũng không phù hợp với yêu cầu của các đương sự và khó khăn trong quá trình thi hành án. Mặc khác, bà N xác định bà không có khả năng thi hành án hoàn giá trị tổng cộng 16.396.501.428 đồng cũng như tiền lãi chậm trả cho ông T và bà P1, ông T1, bà T2. Bà N tự nguyện để Cơ quan Thi hành án xử lý, kê biên tài sản trên để thi hành án theo quy định…”