Đề xuất Án lệ về việc công nhận giá trị pháp lý của văn bản vay tiền mà người ký không có thẩm quyền
ĐỀ XUẤT ÁN LỆ VỀ VIỆC CÔNG NHẬN GIÁ TRỊ PHÁP LÝ CỦA VĂN BẢN VAY TIỀN MÀ NGƯỜI KÝ KHÔNG CÓ THẨM QUYỀN
Tình huống pháp lý:
Hiện nay, khi nền kinh tế phát triển, khi giao dịch giữa các bên ngày càng nhiều, các bên ký kết và thực hiện hợp đồng trên cơ sở tin tưởng lẫn nhau nên đôi khi việc ký kết không đúng thẩm quyền, không tuân theo quy định của pháp luật. Nhưng thực tế, cả hai bên giao kết hợp đồng đều thừa nhận hợp đồng, người tham gia ký kết cũng là thành viên của doanh nghiệp và ký nhiều văn bản liên quan đến việc thực hiện hợp đồng.
Cụ thể, trong tình huống của một vụ án cụ thể sau đây thì công ty có ký kết giao dịch vay tiền với một cá nhân. Trong Văn bản vay tiền, người ký tại mục bên vay là đại diện theo pháp luật của chi nhánh Công ty TNHH, là thành viên Hội đồng thành viên, không được đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp ủy quyền nhưng cả hai đều thừa nhận việc vay tiền để phục vụ hoạt động kinh doanh. Người này đã ký nhiều văn bản vay tiền khác, đã chuyển tiền trả nợ gốc và nợ lãi cho người cho vay, là người ký Giấy mời bên cho vay để đối chiếu công nợ. Tác giả hoàn toàn đồng tình với đường lối giải quyết của Hội đồng xét xử giám đốc thẩm trong vụ án này theo hướng công nhận giao dịch vay tiền giữa 2 bên là hợp pháp, bên vay phải trả tiền gốc và lãi cho bên cho vay, để đảm bảo quyền lợi cho người cho vay.
Với phán quyết vừa có căn cứ, vừa hợp tình, hợp lý, Hội đồng xét xử đã đưa đường lối giải quyết phù hợp cho những vụ án tương tự.
Nội dung đề xuất án lệ:
“[1.] Về tính pháp lý của Giấy xác nhận nợ ngày 31/12/2016:
Mặc dù Giấy nhận nợ chỉ do bà Nguyễn Thị L là giám đốc Chi nhánh của Công ty ĐPký tên và đóng dấu trong khi bà L không được giám đốc Công ty ĐP ủy quyền nhưng cả bà L và ông T (giám đốc Công ty ĐP) đều thừa nhận việc mượn tiền của ông H là để phục vụ hoạt động kinh doanh của Công ty ĐP. Đồng thời, bà L còn là thành viên trong Hội đồng thành viên của Công ty ĐP và nhiều lần chuyển tiền trả nợ gốc cũng như nợ lãi cho ông H; Giấy vay tiền ngày 31/7/2012 thể hiện bên vay là Chi nhánh Công ty ĐP và bà L ký xác nhận; Giấy mời ngày 23/5/2018 để đối chiếu công nợ và trả nợ cũng do bà L ký tại mục người đứng vay. Ngoài ra, bà L và ông T còn là vợ chồng. Do đó, mặc dù Giấy vay tiền ngày 31/12/2016 do bà L ký là không đúng thẩm quyền nhưng phù hợp với các giao dịch vay tiền từ trước đến nay giữa các bên nên có giá trị pháp lý.
[2.] Về số nợ theo Giấy vay tiền ngày 31/12/2016:
Tại Đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, ông H thừa nhận số nợ theo Giấy vay nợ ngày 31/12/2016 là tiền chốt nợ gốc và lãi của quá trình vay mượn trước đó. Qua các tài liệu có tại hồ sơ thì giữa hai bên chỉ có Giấy vay ngày 31/7/2012 với số nợ gốc là 850 triệu và mức lãi suất là 2%, 2,5%/ tháng, 4.000đ/1.000.000đ/ngày. Như vậy có thể khẳng định khoản vay ngày 31/12/2016 là xuất phát từ nợ gốc và lãi của khoản vay ngày 31/7/2012.
Quá trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý đến trước phiên hòa giải ngày 18/02/2020, ông T đều khẳng định chỉ vay ông H số tiền theo Giấy vay ngày 31/7/2012 và đã chuyển trả nợ cho ông H xong nên không còn nợ nữa. Tại phiên hòa giải ngày 18/02/2020, ông T, bà L thừa nhận số tiền 1.314.738.367 đồng trong giấy nợ ngày 31/12/2016 là do bà L viết và ký, sau đó đã trả 500 triệu nên đề nghị trả thêm 200 triệu, không có nội dung nào thể hiện ông T, bà L thừa nhận còn nợ 1.314.738.367 đồng. Sau khi hòa giải không thành, ông T cũng như người đại diện theo ủy quyền đều xác định chỉ vay theo Giấy vay ngày 31/7/2012, đã thanh toán xong nên không đồng ý trả nợ. Như vậy, ông T, bà L chỉ thừa nhận có ký vào Giấy nhận nợ ngày 31/12/2016 nhưng không thừa nhận số tiền nợ. Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng cho rằng tại phiên hòa giải ngày 18/02/2020, ông T, bà L thừa nhận còn nợ 1.314.738.367 nên phải trả nợ cho ông H là không phù hợp với lời khai và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án.”