Đề xuất Án lệ về xác định người bị thương tật trong chiến tranh trong trường hợp giấy chứng nhận bị thương nhầm lẫn tên, số hiệu đơn vị của người bị thương
ĐỀ XUẤT ÁN LỆ VỀ XÁC ĐỊNH NGƯỜI BỊ THƯƠNG TẬT TRONG CHIẾN TRANH TRONG TRƯỜNG HỢP GIẤY CHỨNG NHẬN BỊ THƯƠNG NHẦM LẪN TÊN, SỐ HIỆU ĐƠN VỊ CỦA NGƯỜI BỊ THƯƠNG
Tình huống pháp lý:
Trong chiến tranh, đôi khi việc nhầm lẫn khi ghi chép các giấy tờ vẫn có thể xảy ra. Tuy nhiên, điều này đã ảnh hưởng không nhỏ tới việc xác định quyền lợi của những người có liên quan.
Nội dung đề xuất án lệ:
“…
Vớ i các căn cứ có tính pháp lý nêu trên đã có đủ cơ sở xác định: Có ông Đỗ Trọng N, sinh năm 1949, địa chỉ: xã Thanh Vân, huyện Thanh Ba, tỉnh Vĩnh Phú (cũ), nhập ngũ 13/5/1972, ngày vào chiến trường 06/8/1972, đơn vị C7 D8 E3 F324 là chính xác. Ông Đỗ Trọng N chưa bao giờ có tên là Đỗ Trọng N1, trong lý lịch quân nhân đều thể hiện tên khai sinh và tên thường dùng đều có tên là Đỗ Trọng N. Do đó không thể yêu cầu Sở tư pháp xác định ông Đỗ Trọng N1 là ông Đỗ Trọng N được. Tại “Giấy chứng minh quân đội nhân dân Việt Nam” ghi họ tên: Đỗ Trọng N; Đơn vị Trung đoàn 3 QĐ2; Nhận dạng: Cao 1m55, dái tai phật, sẹo nhỏ trên đầu mày trái, cấp ngày 09/6/1975 (BL 06). Tại “ Giấy chứng minh nhân dân” ghi họ tên: Đỗ Trọng N, sinh năm 1949; dấu vết riêng, dị hình: Sẹo chấm c 5cm trên trước đầu lông mày trái, cấp ngày 02/7/2012( BL 25). Như vậy họ tên, năm sinh, nguyên quán đều trùng khớp nhau, thậm chí đặc điểm dấu vết riêng trên cơ thể cũng trùng khớp. Điều quan trọng là tại xã Thanh Vân xác định: Ông Đỗ Trọng N – sinh năm 1949 (khu 3 xã Thanh Vân cũ) đi bộ đội khoảng năm 1972 là đúng. Khoảng năm 1975 – 1976 ông Đỗ Trọng N về địa phương sinh sống, có bố là Đỗ Văn Nghiễn, mẹ Nguyễn Thị Hấn, “cụ Nghiễn, cụ Hấn không có người con nào tên là Đỗ Trọng N1, sinh năm 1949 đi bộ đội khoảng năm 1972” (BL 174,175).
…
* Tại phiên tòa hôm nay, ông Đỗ Trọng N không đồng ý làm thủ tục, chế độ mới cho ông từ đầu mà đề nghị làm đúng chế độ cho ông theo quy định của nhà nước. Hội đồng xét xử thấy rằng: Chiến tranh đã qua đi nhiều năm nhưng vẫn để lại hậu quả rất nặng nề, Đảng, nhà nước có nhiều chính sách để góp phần xoa dịu nỗi đau, mất mát, khó khăn cho người có công, các đối tượng chính sách. Mỗi cán bộ, Đảng viên phải nêu cao tinh thần trách nhiệm với công việc, đảm bảo quyền lợi cho nhân dân được quy định rõ tại Điều 6 Pháp lệnh người có công: “…Phải chăm lo đời sống vật chất, tinh thần người có công….Chế độ ưu đãi người có công với cách mạng và người thân nhân của người có công với cách mạng phải được xác định…..” do đó không phải là khai man, không phải là giả mạo nên cần được xem xét vì lịch sử để lại, không thể do nhầm lẫn, sai sót mà không xem xét hoặc xem xét lại từ đầu cũng làm mất đi quyền lợi chính đáng của người có công. Trường hợp của ông Đỗ Trọng N giấy tờ gốc trùng khớp với hồ sơ xác lập ban đầu, vị trí các vết thương đều trùng khớp, mảnh kim khí vẫn còn trên cơ thể ông Đỗ Trọng N vì vậy ý kiến không chấp nhận của người bị kiện cũng như quan điểm không chấp nhận đơn khởi kiện của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ là chưa phù hợp, mà cần chấp nhận đơn khởi kiện của của ông Đỗ Trọng N, buộc Sở lao động thương binh và xã hội tỉnh Phú Thọ phải tiếp tục chi trả chế độ thương binh cho ông Đỗ Trọng N từ ngày 01/7/2012 là phù hợp..”