Thông báo rút kinh nghiệm số 97/TB-VKSTC ngày 20/02/2020 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao rút kinh nghiệm kiểm sát việc giải quyết đối với vụ việc kinh doanh thương mại liên quan đến yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của Trọng tài nước ngoài

THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM SỐ 97/TB-VKSTC NGÀY 20/02/2020 CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO RÚT KINH NGHIỆM KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT ĐỐI VỚI VỤ VIỆC KINH DOANH THƯƠNG MẠI LIÊN QUAN ĐẾN YÊU CẦU CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH TẠI VIỆT NAM QUYẾT ĐỊNH CỦA TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI

Nội dung vấn đề cần rút kinh nghiệm:

Thứ nhất, về tố tụng

Căn cứ giấy ủy quyền của người đại diện theo pháp luật của Công ty Balance ủy quyền cho ông Hoàng Ngọc Phan và ông Phạm Quang Vinh ngày 29/12/2014 thể hiện nội dung ủy quyền:

1. Ông Hoàng Ngọc Phan và ông Phạm Quang Vinh là người đại diện theo ủy quyền của Công ty Balance Industry Co., Ld trực tiếp làm việc với Bộ Tư pháp Việt Nam để nộp đơn và tài liệu kèm theo về việc yêu cầu Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành Quyết định (Phán quyết sau cùng số ARB 154/13/JY ngày 26/5/2014) của Trung tâm Trọng tài Quốc tế Singapore (SIAC);

2. Trong phạm vi ủy quyền ông Hoàng Ngọc Phan và ông Phạm Quang Vinh được quyền độc lập thay mặt và nhân danh Công ty Balance giao – nhận các chúng từ, tài liệu, các văn bản tố tụng; tham dự các buổi làm việc với Bộ Tư pháp Việt Nam và các cơ quan hữu quan; lập và ký tên vào các biên bản, tài liệu, đơn từ”.

Nội dung ủy quyền trên không thể hiện rõ việc ông Phan và ông Vinh được ủy quyền tham gia tố tụng tại Tòa án và cũng không thể hiện ông Phan, ông Vinh được quyền kháng cáo quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm theo quy định tại Điều 243 BLTTDS 2004 được sửa đổi bổ sung năm 2011 (nay là Điều 272 BLTTDS năm 2015), việc Tòa án cấp sơ thẩm chưa kiểm tra việc ủy quyền cho ông Phan và ông Vinh nhưng chấp nhận cho ông Phan và ông Vinh tham gia phiên họp sơ thẩm và xác định kháng cáo của hai ông hợp lệ là thiếu sót. Tuy nhiên, thiếu sót này của Tòa án cấp sơ thẩm đã được Tòa án cấp phúc thẩm phát hiện và yêu cầu Tòa án cấp sơ thẩm rút kinh nghiệm.

Thứ hai, về nội dung

Khi kiểm sát vụ việc trên, Viện kiểm sát cần căn cứ Khoản 4 Điều 369 BLTTDS 2004 được sửa đổi bổ sung năm 2011 (nay là khoản 4 Điều 458 BLTTDS 2015), quy định: “Khi xem xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của trọng tài nước ngoài, Hội đồng không được xét xử lại tranh chấp đã được Trọng tài nước ngoài ra phán quyết. Tòa án chỉ được kiểm tra, đối chiếu phán quyết của Trọng tài nước ngoài, giấy tờ, tài liệu kèm theo đơn yêu cầu với các quy định tại Chương XXXV và Chương XXXVII của Bộ luật này, các quy định khác có liên quan của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên để làm cơ sở cho việc ra quyết định công nhận hoặc không công nhận phán quyết đó”.

Đối với vụ việc cụ thể trên, Tòa án hai cấp quyết định: “Không công nhận và cho thi hành tại Việt Nam Phán quyết sau cùng số ARB 154/13/JY ngày 26/5/2014 của Trung tâm Trọng tài Quốc tế Singapore (SIAC)”, là có căn cứ bởi lẽ:

1. Việc Công ty P.P cho rằng SIAC không mở phiên họp để giải quyết tranh chấp dẫn đến Công ty P.P không được tham gia tố tụng, thấy:

Tại điểm c Điều 5.2 Quy tắc SIAC 2013, quy định về thủ tục khẩn trương: “Trừ khi các bên có thỏa thuận rằng vụ tranh chấp sẽ được quyết định chỉ trên cơ sở chúng cứ hồ sơ, Hội đồng trọng tài sẽ tổ chức phiên tòa giải quyết vụ tranh chấp để kiểm tra tất cả mọi người là chứng và người làm chứng là chuyên gia và các lập luận”; Điều 21.1 Quy tắc SIAC 2013 cũng quy định về phiên họp giải quyết tranh chấp: "Trừ khi các bên đã thỏa thuận về tố tụng trọng tài chỉ dựa trên hồ sơ, nếu một bên có yêu cầu hoặc Hội đồng trọng tài có quyết định, Hội đồng trọng tài sẽ tổ chức phiên họp giải quyết vụ tranh chấp để trình bày chúng cử và /hoặc trình bày miệng nội dung vụ tranh chấp, bao gồm nhưng không giới hạn các vấn đề về thẩm quyền”.

Như vậy, theo quy định tại điểm c Điều 5.2 và Điều 21.1 Quy tắc SIAC 2013 thì: Nếu không có sự thỏa thuận của các bên thống nhất vụ tranh chấp sẽ được quyết định chỉ trên cơ sở chứng cứ hồ sơ, mọi trường hợp Hội đồng trọng tài sẽ phải mở phiên tòa để trực tiếp nghe ý kiến của các bên và kiểm tra chứng cứ tại phiên tòa.

Căn cứ vào mục 17, 18 Phán quyết trọng tài, lời khai của Công ty Balance thì SIAC chỉ căn cứ vào đề nghị của Công ty Balance để tiến hành giải quyết vụ tranh chấp và quyết định chỉ dựa trên hồ sơ mà không mở phiên họp là trái với quy định tại điểm c Điều 5.2 và Điều 21.1 Quy tắc SIAC 2013 dẫn đến Công ty P.P không được triệu tập tham gia tố tụng để trực tiếp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty P.P và nội dung này thuộc một trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 370 BLTTDS 2004 được sửa đổi bổ sung năm 2011 (nay là điểm c khoản 1 Điều 459 BLTTDS 2015) quy định những trường hợp không công nhận.

2. Việc chỉ định Trọng tài viên của SIAC, thấy:

Tại điểm 12 của Phán quyết trọng tài xác định vụ việc được SIAC giải quyết bởi một Trọng tài viên duy nhất là ông Werneer Tsu; Tại Điều 6.1 Quy tắc SIAC 2013 quy định: “Trọng tài viên duy nhất sẽ được chỉ định trừ khi các bên có thỏa thuận khác...”. Như vậy, theo tài liệu trong hồ sơ không thể hiện trước khi chỉ định trọng tài viên duy nhất phân xử vụ kiện thể hiện SIAC đã hỏi ý kiến của các bên là vi phạm Điều 6.1 Quy tắc.

Tài liệu trong hồ sơ vụ án cũng không thể hiện trước khi có việc chỉ định Trọng tài viên duy nhất, Công ty Balance đã đề xuất với Công ty P.P danh sách trọng tài viên; SIAC không gửi danh sách trọng tài viên cho P.P lựa chọn, không có văn bản thông báo Công ty P.P được quyền thỏa thuận với Công ty Banlance việc chỉ định trọng tài viên, không xác định xem Công ty P.P đã có thỏa thuận trọng tài viên hay chưa mà đã chỉ định ông Werner Tsu làm trọng tài viên duy nhất là vi phạm số lượng và chỉ định Trọng tài viên được quy định tại Điều 6 Quy tắc và vi phạm về Trọng tài viên duy nhất quy định tại Điều 7 Quy tắc.

Từ những phân tích trên, thấy việc chỉ định trọng tài của SIAC trong vụ kiện này là vi phạm Điều 6, Điều 7 Quy tắc SIAC 2013 và vi phạm này thuộc trường hợp quy định tại 370 BLTTDS 2004 được sửa đổi bổ sung năm 2011 (nay là điểm c khoản 1 Điều 459 BLTTDS 2015) quy định những trường hợp không được công nhận. Vì vậy, Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm không công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết số ARB 154/13/JY ngày 26/5/2014 của Trung tâm Trọng tài Quốc tế Singapore (SIAC) là có căn cứ.

Trên đây là một số vấn đề cần rút kinh nghiệm trong quá trình kiểm sát việc giải quyết vụ việc kinh doanh thương mại về “Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của Trọng tài nước ngoài”, Viện kiểm sát nhân dân tối cao thông báo đến các Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để tham khảo trong quá trình thực hiện chức năng kiểm sát./.