Thông báo rút kinh nghiệm số 77/TB-VC1-KDTM ngày 29/11/2019 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội về vi phạm trong việc giải quyết vụ án “Tranh chấp hợp đồng xây dựng”
THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM SỐ 77/TB-VC1-KDTM NGÀY 29/11/2019 CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI VỀ VI PHẠM TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN “TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG”
Nội dung vấn đề cần rút kinh nghiệm:
Hợp đồng thầu phụ số TAC-JUNA/03092013 là hợp đồng xây dựng theo đơn giá cố định. Tại Điều 5 và Điều 11 của Hợp đồng quy định về tổng giá trị hợp đồng là 25.410.000.000 đồng (đã bao gồm VAT) và giá trị hợp đồng đối với các danh mục hàng hóa, vật tư được ký kết sẽ không thay đổi do biến động vật giá cho đến khi kết thúc hoàn công. Công ty J và Công ty T chỉ tranh chấp về khối lượng đã thi công và số tiền phải thanh toán.
Công ty J thừa nhận Chứng thư thẩm định giá ngày 20/6/2014 của Công ty cổ phần định giá và bán đấu giá tài sản Nhân Thành là căn cứ để xác định khối lượng công việc hoàn thành nhưng cho rằng một số hạng mục phát sinh Công ty J đã thi công nhưng không có trong Chứng thư thẩm định và tính giá trị thấp hơn thực tế. Song quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm, Công ty J không yêu cầu thẩm định lại nên Tòa án cấp sơ thẩm sử dụng Chứng thư này làm căn cứ để giải quyết vụ án là đúng. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm lấy toàn bộ kết quả của Chứng thư thẩm định giá trị công trình xây dựng dở dang trên đất do Công ty J thi công có tổng giá trị sau thuế là 17.383.723.365 đồng (bao gồm cả chi phí thiết kế, cấp phép, chiết khẩu có giá trị sau thuế) để buộc Công ty T phải thanh toán cho Công ty J là thiếu sót vì Công ty J chỉ thực hiện riêng phần thi công mà tổng chi phí xây dựng do Công ty J thi công theo Chứng thư thẩm định giá chỉ có giá trị là 14.949.954.850 đồng (giá trị sau thuế là 16.444.950.335 đồng), còn chi phí thiết kế, cấp phép, chiết khấu có giá trị sau thuế 938.749.665 đồng Công ty T không phải thanh toán cho Công ty J.
Tòa án cấp phúc thẩm nhận định việc thanh toán giữa hai bên thực hiện theo Hợp đồng thầu phụ số TAC-JUNA/03092013 ngày 03/09/2013 là theo hóa đơn giá trị gia tăng thực tế đã xuất, do Hợp đồng thầu phụ ký giữa hai bên không thỏa thuận về điều khoản thanh toán nên cần buộc Công ty T thanh toán cho Công ty J số tiền còn thiếu theo Hóa đơn GTGT số 0000050 ngày 20/3/2014 (là hóa đơn còn lại chứa thanh toán) tương ứng 5.500.000.000 đồng.
Tuy nhiên, tại Điều 6 của Hợp đồng thầu phụ có quy định về phương thức thanh toán và thời điểm thanh toán chi phí cho phân công việc đã hoàn thành là sau khi Công ty T, Công ty J và Chủ đầu tư kiểm tra tiến độ thi công tại công trường. Mặt khác, tại khoản 5 Điều 18 Nghị định số 48/2010/NĐ-CP ngày 07/5/2010 của Chính phủ quy định về hợp đồng trong hoạt động xây dựng thì: Đối với hợp đồng theo đơn giá cố định được thực hiện trên cơ sở khối lượng thực tế hoàn thành (kể cả khối lượng tăng hoặc giảm nếu có) được nghiệm thu và đơn giá trong hợp đồng theo đúng các thỏa thuận trong hợp đồng. Như vậy, mặc dù trước đó Công ty T đã thanh toán cho Công ty J số tiền 16.800.000.000 đồng theo các hóa đơn: Hóa đơn GTGT số 0000032 ngày 30/9/2013, Hóa đơn GTGT số 0000043 ngày 20/12/2013, Hóa đơn GTGT số 0000044 ngày 31/12/2013, Hóa đơn GTGT số 0000046 ngày 24/01/2014 và Hóa đơn GTGT số 0000047 ngày 15/02/2014 song là thanh toán khi chưa có biên bản nghiệm thu từng phần công việc đã hoàn thành (theo Công ty TAC thì đó mới chỉ là phần tiền tạm ứng cho Công ty J, chưa phải là tiền đã thanh toán). Riêng đối với Hóa đơn GTGT số 0000050 ngày 20/3/2014 tương ứng số tiền 5.500.000.000 đồng (đã bao gồm 10% VAT) phía Công ty T chưa thanh toán cho Công ty J vì các bên có tranh chấp về phần thi công công trình. Do vậy, Tòa án cấp phúc thẩm buộc Công ty TAC thanh toán cho Công ty J số tiền 5.500.000.000 đồng theo Hóa đơn còn lại mà không trên cơ sở khối lượng thi công thực tế đã được thẩm định theo chứng thư thẩm định nêu trên là không đúng.
Do Bản án sơ thẩm và Bản án phúc thẩm nêu trên có vi phạm trong việc đánh giá chứng cứ và áp dụng pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án, nên Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã căn cứ điểm a khoản 1 Điều 337, khoản 3 Điều 343 và khoản 2 Điều 345 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, quyết định: Hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm và Bản án phúc thẩm nêu trên; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh H xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.
Trên đây là những vi phạm cần rút kinh nghiệm trong việc tổng hợp đánh giá chứng cứ và áp dụng pháp luật của tòa án địa phương trong quá trình giải quyết vụ án “Tranh chấp hợp đồng xây dựng”. Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội thông báo để các đơn vị trong Ngành cùng tham khảo, rút kinh nghiệm./.