Thông báo rút kinh nghiệm số 27/TB-VC1-V4 ngày 06/9/2017 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội về một số vi phạm trong việc giải quyết vụ án kinh doanh thương mại liên quan đến tranh chấp hợp đồng tín dụng
THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM SỐ 27/TB-VC1-V4 NGÀY 06/9/2017 CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI VỀ MỘT SỐ VI PHẠM TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN KINH DOANH THƯƠNG MẠI LIÊN QUAN ĐẾN TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
Nội dung vấn đề cần rút kinh nghiệm:
Về tài sản đảm bảo là Quyền sử dụng 88 m2 đất và quyền sở hữu nhà tại 15A LH, giấy chứng nhận QSD đất do UBND.. cấp ngày 17/8/2007 cho vợ chồng ông Nguyễn Quốc Th và bà Nguyễn Thị Th. Vợ chồng ông Th bà Th đã thế chấp cho VPBank theo Hợp đồng thế chấp QSD đất và tài sản gắn liền với đất (số công chứng 6777.11 ngày 03/8/2011).
Cũng với tài sản nêu trên, ông Th, bà Th có đơn xin góp vốn vào Công ty (không ngày, tháng, năm) với nội dung góp vốn bằng QSH nhà và QSD đất tại 15 A LH.. vào Chi nhánh công ty cổ phần Th (không ghi rõ diện tích, giá trị QSD đất và nhà là bao nhiêu?). Giám đốc Công ty lại chính là ông Nguyễn Quốc Th ký quyết định chấp nhận việc góp vốn ngày 25/9/2007. Công ty cổ phần Th gồm 03 thành viên đều mang họ Nguyễn Quốc (không rõ có phải là anh em không?). Hai bên không lập hợp đồng góp vốn, không chứng thực và không đăng ký với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Cũng không có việc chuyển QSD đất từ vợ chồng ông Th sang Công ty cổ phần Th là vi phạm Điều 29, Điều 30 Luật doanh nghiệp; Điều 131 Luật đất đai và hướng dẫn tại khoản 1 Điều 119 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật đất đai (nay là khoản 10 Điều 02 Nghị định số 17/2006/ND-CP ngày 27/01/2006 của Chính phủ bổ sung NĐ số 181 nêu trên).
Mặt khác, giấy chứng nhận QSD đất còn thể hiện vào thời điểm ngày 25/9/2007 thì giấy chứng nhận QSD đất đang thế chấp tại Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT Việt Nam chi nhánh HM theo hợp đồng công chứng ngày 23/8/2007 (đến ngày 01/8/2011 mới xóa thế chấp). Do đó, việc góp vốn có được bên nhận thế chấp là Ngân hàng NN và PTNT đồng ý hay không cũng không được làm rõ.
Tòa án cấp sơ thẩm và tòa án cấp phúc thẩm chưa làm rõ việc góp vốn của vợ chồng ông Th vào Công ty Th. Các đồng cổ đông của công ty gồm những ai? Tài sản thế chấp nhà bê tông 02,04 tầng trong hợp đồng trái thực tế nhà bê tông 07 tầng, 01 tầng hầm. Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm không xác minh làm rõ vấn đề này. Việc xác định hợp đồng thế chấp vô hiệu toàn bộ là không có căn cứ. Hợp đồng góp vốn của ông Th và bà Th là không hợp pháp cả về nội dung lẫn hình thức.
Khi giải quyết vụ án, tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm không làm rõ việc ông Th góp vốn nhà đất vào Công ty Th và cũng chính tài sản đó đã thế chấp ngân hàng. Ngân hàng không biết việc góp vốn đó thì có phải hành vi tẩu tán tài sản của công ty không? Nếu có dấu hiệu của tội phạm hình sự thì chuyển Cơ quan Công an có thẩm quyền giải quyết. Tòa án cũng không xem xét việc thỏa thuận thi hành án tại Biên bản làm việc ngày 01/10/2014 giữa Ngân hàng với các bên liên quan (có sự tham gia của Cục An ninh, tài chính, tiền tệ, đầu tư - Bộ Công an) dẫn đến giải quyết vụ án không khách quan, toàn diện và thiếu chính xác, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự được pháp luật bảo vệ.
Do có những vi phạm nghiêm trọng cả nội dung và hình thức nêu trên, Ủy ban thẩm phán TAND cấp cao tại Hà Nội đã căn cứ khoản 3 Điều 343 và khoản 1,2 Điều 345 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 hủy Bản án số 38/2014/KDTM-PT ngày 15/5/2014 của TAND thành phố H và Bản án số 10/2013/KDTM-ST ngày 31/12/2013 của TAND huyện Th.. về việc giải quyết vụ án nêu trên. Giao hồ sơ về Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại theo qui định của pháp luật.
Trên đây là một số vi phạm trong quá trình giải quyết vụ án kinh doanh thương mại, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội nêu đề Viện kiểm sát các địa phương tham khảo, rút kinh nghiệm chung. Nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát giải quyết các vụ án Kinh doanh thương mại./.