Đề xuất Án lệ về xử lý vật chứng là phương tiện phạm tội do bị cáo nhận chuyển nhượng bằng hình thức ủy quyền
ĐỀ XUẤT ÁN LỆ VỀ XỬ LÝ VẬT CHỨNG LÀ PHƯƠNG TIỆN PHẠM TỘI DO BỊ CÁO NHẬN CHUYỂN NHƯỢNG BẰNG HÌNH THỨC ỦY QUYỀN
Tình huống pháp lý:
Điều 89 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “Vật chứng là vật được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội, vật mang dấu vết tội phạm, vật là đối tượng của tội phạm, tiền hoặc vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội hoặc có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án.”
Phương tiện phạm tội là đối tượng vật chất được chủ thể của tội phạm sử dụng trợ giúp cho việc thực hiện hành vi phạm tội.
Việc xử lý vật chứng đã được quy định cụ thể tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tuy nhiên, thực tiễn giải quyết vụ án, một số trường hợp xử lý vật chứng vẫn gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng.
Trong vụ án được đề xuất, bị cáo đã nhận chuyển nhượng lại ô tô là phương tiện phạm tội thông qua hình thức hợp đồng ủy quyền và không làm thủ tục đăng ký quyền sở hữu. Tòa án đã căn cứ nội dung của Hợp đồng ủy quyền, phạm vi ủy quyền để xác định chiếc xe ô tô thuộc sở hữu của bị cáo dù bị cáo không đứng tên. Từ đó, tuyên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước đối với chiếc xe này là có cơ sở.
Nội dung đề xuất án lệ:
“[11] Đối với chiếc xe ô tô 60A – 242.93 do các bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội, do chính bị cáo Nguyễn Văn T2 (là chồng của bị cáo Mai Thị H) điều khiển, có chủ sở hữu chị Phạm Thị Anh Đ (theo giấy đăng ký xe và Phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của Phòng CSGT-Công an tỉnh Đồng Nai). Ngày 10/4/2018 chị Đ và anh T3 đã bán xe trên cho ông Lê Thành N, hình thức hợp đồng uỷ quyền, không làm thủ tục sang tên theo quy định (bút lục 414-416, 459-460, 483- 485). Ngày 20/3/2019, anh N bán xe trên lại cho bị cáo Mai Thị H hình thức hợp đồng uỷ quyền, không làm thủ tục sang tên theo quy định (bút lục 412-413, 457-458). Mặc dù về pháp lý chiếc xe trên vẫn đứng tên chị Phạm Thị Anh Đ nhưng thực tế đã bán cho bị cáo H và bị cáo H là chủ sở hữu, bởi lẽ căn cứ vào phạm vi ủy quyền của 02 Hợp đồng ủy quyền nêu trên thì bị cáo H có đủ 03 quyền của chủ sở hữu gồm chiếm hữu, sử dụng và định đoạt (cầm cố, tặng cho, cho thuê hoặc bán…). Việc này cũng được chị Đ, anh T3 và anh N đều xác nhận đã bán, đã nhận tiền đầy đủ, giao xe (Chị Đ và ông N không yêu cầu, thắc mắc gì đối với xe trên, đề nghị Toà án xét xử theo pháp luật). Từ phân tích trên, đủ cơ sở xác định chiếc xe ô tô 60A – 242.93 là của bị cáo Mai Thị H. Do đó, cấp sơ thẩm đã áp dụng điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 xe ô tô 60A – 242.93 (hiệu KIA loại ô tô con, màu trắng, số máy G4KAEH410974, số khung 51M5FC061659 kèm theo giấy đăng ký xe) do bị cáo T2 và H sử dụng làm phương tiện phạm tội là phù hợp, đúng quy định pháp luật.”