Thông báo rút kinh nghiệm số 55/TB-VC2-HC ngày 08/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng về vụ án “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”
THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM SỐ 55/TB-VC2-HC NGÀY 08/7/2024 CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG VỀ VỤ ÁN “KHIẾU KIỆN QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI”
Nội dung vấn đề cần rút kinh nghiệm:
Thứ nhất, Toà án cấp sơ thẩm đánh giá chứng cứ không đúng, không khách dẫn đến nhận định, quyết định vụ án không đúng pháp luật.
Toà án cấp sơ thẩm cho rằng người khởi kiện bà T chưa nhận được bản chính Quyết định thu hồi đất số 1535/QĐ-UBND ngày 29/10/2010, người bị kiện không có tài liệu, chứng cứ chứng minh đã gửi bản chính Quyết định số 1535/QĐ- UBND cho người khởi kiện. Tại biên bản làm việc ngày 09/10/2012, người khởi kiện cũng không đồng ý với nội dung thu hồi đất nên Toà sơ thẩm cho rằng khiếu nại về việc thu hồi đất chưa được giải quyết theo quy định.
Tuy nhiên, tài liệu hồ sơ vụ án thể hiện, ngày 13/12/2010, UBND huyện E nhận được Đơn ghi ý kiến kiến nghị của bà Long Thị T về việc xin mua lại đất thể hiện nội dung: “Sau khi Tổ xác minh xong, gia đình tôi nhận được quyết định thu hồi đất của thửa đất số 197..”. Tại Biên bản làm việc ngày 24/12/2010 giữa UBND huyện E làm việc với bà Long Thị T thể hiện nội dung: “Đối với Quyết định số 1535/QĐ-UBND ngày 29/10/2010 về việc thu hồi đất của bà Long Thị T với diện tích là 1.866m’ với lý do thu hồi là giao đất không đúng thẩm quyền. Bà Long Thị T đã viết đơn xin mua lại đất nhưng Phòng TNMT huyện E không nhận được đơn. Bà T có nguyện vọng xin mua lô đất đã bị thu hồi theo giá đất của UBND tỉnh Đắk Lắk quy định và bà đề nghị được mua đất theo chủ trương của huyện.” Ngày 09/10/2012, UBND xã C tiến hành làm việc với đại diện của 04 hộ gia đình về việc thực hiện quyết định thu hồi đất của UBND huyện E, trong đó có bà Long Thị T. Nội dung buổi làm việc thể hiện: “Đối với bà Long Thị T có Quyết định thu hồi đất số 1535/QĐ-UBND ngày 29/10/2010 với diện tích 1.866m tại thửa đất số 197, tờ bản đồ số 15...”. Tại các buổi làm việc này, bà T đều ký xác nhận vào biên bản làm việc.
Như vậy, có căn cứ xác định bà T đã biết được Quyết định số 1535/QĐ- UBND ngày 29/10/2010 của UBND huyện E về việc thu hồi đất của bà vào năm 2010, nhưng đến năm 2023 bà T mới khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định số 1535 là đã hết thời hiệu quy định tại khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính năm 2015. Thứ hai, Toà án cấp sơ thẩm xác định không đúng đối tượng khởi kiện vụ án hành chính.
Thông báo số 266/TB-UBND ngày 19/5/2022 của UBND huyện E thể hiện nội dung thông báo cho bà T biết đơn khiếu nại về việc thu hồi đất của bà đối với Quyết định số 1535/QĐ-UBND đã hết thời hạn giải quyết khiếu nại và thửa đất bị thu hồi hiện đang được giao cho UBND xã C quản lý. Toà án cấp sơ thẩm căn cứ vào quy định tại mục 4 phần III Công văn số 89/TANDTC-PC ngày 30/6/2020 của Tòa án nhân dân tối cao: “Trường hợp cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản bằng hình thức Công văn, Thông báo,... có nội dung thể hiện diễn biến việc ra quyết định hành chính, quá trình xác minh khiếu nại, từ đó căn cứ các quy định của pháp luật để ra kết luận đối với việc khiếu nại thì xác định văn bản hành chính này là quyết định giải quyết khiếu nại. Văn bản này có nội dung làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự nên được xác định là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính. Khi giải quyết vụ án thì Tòa án phải xem xét tính hợp pháp của quyết định hành chính ban đầu” để cho rằng nội dung Thông báo số 266 liên quan đến quyết định thu hồi đất và ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi người khởi kiện nên là đối tượng khởi kiện để làm căn cứ xem xét Quyết định số 1535.
Xét nội dung Thông báo số 266 nêu trên không làm phát sinh, thay đổi, hạn chế, chấm dứt quyền và lợi ích hợp pháp của bà T nên không thuộc đối tượng khởi kiện theo quy định khoản 2 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính năm 2015. Toà án cấp sơ thẩm xác định Thông báo số 266/TB-UBND ngày 19/5/2022 của UBND huyện E là đối tượng khởi kiện là hiểu không đúng tinh thần hướng dẫn của Toà án nhân dân tối cao, bởi lẽ cũng theo quy định tại mục 4 phần III Công văn số 89/TANDTC-PC ngày 30/6/2020 của Tòa án nhân dân tối cao thì: “Trường hợp cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản bằng hình thức Công văn, Thông báo,... có nội dung cho rằng việc khiếu nại đã hết thời hiệu theo quy định của pháp luật thì văn bản hành chính này không phải là quyết định giải quyết khiếu nại và không thuộc đối tượng khởi kiện vụ án hành chính.” Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết đối với Thông báo số 266/TB-UBND ngày 19/5/2022 của UBND huyện E là không đúng quy định pháp luật, xác định không đúng đối tượng khởi kiện.
Vụ án này, lẽ ra sau khi thụ lý vụ án, Toà án cấp sơ thẩm phải căn cứ vào điểm g khoản 1 Điều 143 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 để đình chỉ giải quyết vụ án mới đúng quy định pháp luật.
Trên đây là những vi phạm của Toà án nhân dân tỉnh Đ trong việc giải quyết vụ án hành chính nêu trên. Để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng thông báo đến Viện kiểm sát các tỉnh, thành phố khu vực cùng tham khảo và rút kinh nghiệm khi kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính tương tự./.