Phân phối kết quả tài chính của Quỹ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa được quy định như thế nào? Quản lý và sử dụng các quỹ được thực hiện ra sao?
Phân phối kết quả tài chính của Quỹ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa được quy định như thế nào? Quản lý và sử dụng các quỹ được thực hiện ra sao?
Luật sư cho tôi hỏi: Tôi hiện đang là chủ một doanh nghiệp nhỏ hoạt động trong lĩnh vực sản xuất thủ công mỹ nghệ. Trong thời gian gần đây, tôi có tìm hiểu về Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, một tổ chức tài chính nhà nước có chức năng hỗ trợ các doanh nghiệp như chúng tôi trong việc vay vốn, bảo lãnh và hỗ trợ phát triển. Khi tìm hiểu sâu hơn, tôi thấy Quỹ có quy định cụ thể về việc phân phối kết quả tài chính cũng như quản lý, sử dụng các quỹ nội bộ (như quỹ dự phòng, quỹ khen thưởng, phúc lợi,...). Tuy nhiên, tôi vẫn chưa nắm rõ các nguyên tắc và căn cứ pháp lý cụ thể của việc này. Mong luật sư giải đáp giúp tôi, xin cảm ơn.
MỤC LỤC
1. Phân phối kết quả tài chính của Quỹ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa được quy định như thế nào?
2. Quản lý và sử dụng các quỹ được thực hiện ra sao?
Trả lời:
1. Phân phối kết quả tài chính của Quỹ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa được quy định như thế nào?
Trong cơ cấu hoạt động tài chính của Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, việc phân phối kết quả tài chính là một khâu quan trọng, thể hiện trách nhiệm quản lý, tính minh bạch trong sử dụng nguồn vốn và sự công bằng trong phân chia lợi ích. Hoạt động này không chỉ nhằm bảo đảm cân đối tài chính, mà còn hướng đến mục tiêu lâu dài là duy trì năng lực hoạt động, khuyến khích người lao động, củng cố quỹ dự phòng và tái đầu tư cho sự phát triển bền vững của Quỹ. Theo Điều 50 Nghị định số 39/2019/NĐ-CP ngày 10/5/2019 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (sau đây gọi tắt là “Nghị định số 39/2019/NĐ-CP”) được sửa đổi bởi Nghị định số 45/2024/NĐ-CP ngày 26/4/2024 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 39/2019/NĐ-CP (sau đây gọi tắt là “Nghị định số 45/2024/NĐ-CP”), cơ chế phân phối kết quả tài chính được thực hiện như sau:
“Điều 50. Phân phối kết quả tài chính
1. Kết quả tài chính hằng năm của Quỹ là số chênh lệch giữa tổng số thu nhập và tổng số chi phí phát sinh trong năm tài chính.
2. Sau khi trả tiền phạt do vi phạm các quy định của pháp luật và bù đắp lỗ từ các năm trước, nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật, trường hợp tổng thu nhập lớn hơn tổng chi phí, phần chênh lệch này coi như 100%, được phân phối như sau:
a) Trích tối đa 25% vào quỹ đầu tư phát triển;
b) Trích tối đa 20% vào quỹ dự phòng tài chính, mức tối đa của quỹ này không vượt quá 25% mức vốn điều lệ thực có của Quỹ;
c) Trích quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi tối đa bằng 03 tháng lương thực hiện trong năm tài chính của người lao động và quỹ thưởng người quản lý, Kiểm soát viên tối đa bằng 1,5 tháng lương thực hiện trong năm tài chính của người quản lý, Kiểm soát viên;
d) Số còn lại sau khi trích các quỹ trên (nếu có) được bổ sung vào quỹ đầu tư phát triển;
đ) Trường hợp chênh lệch thu - chi còn lại sau khi trích lập quỹ đầu tư phát triển mà không đủ nguồn để trích các quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ thưởng người quản lý, Kiểm soát viên theo mức quy định thì Quỹ được giảm trích lập quỹ đầu tư phát triển để bổ sung nguồn trích lập đủ quỹ khen thưởng, phúc lợi, quỹ thưởng người quản lý, Kiểm soát viên theo mức quy định nhưng mức giảm tối đa không quá mức trích vào quỹ đầu tư phát triển trong năm tài chính;
e) Hội đồng thành viên quyết định mức trích quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính, quỹ khen thưởng, phúc lợi, quỹ thưởng người quản lý, Kiểm soát viên.
3. Trích lập quỹ khen thưởng, phúc lợi:
a) Quỹ xếp loại A được trích 3 tháng lương thực hiện của người lao động cho hai quỹ khen thưởng, phúc lợi;
b) Quỹ xếp loại B được trích 1,5 tháng lương thực hiện của người lao động cho hai quỹ khen thưởng, phúc lợi;
c) Quỹ xếp loại C được trích 01 tháng lương thực hiện của người lao động cho hai quỹ khen thưởng, phúc lợi.
4. Trích lập quỹ thưởng người quản lý, Kiểm soát viên:
a) Quỹ xếp loại A được trích 1,5 tháng lương thực hiện của người quản lý, Kiểm soát viên;
b) Quỹ xếp loại B được trích 01 tháng lương thực hiện của người quản lý, Kiểm soát viên;
c) Quỹ xếp loại C thì không được trích lập quỹ thưởng của người quản lý, Kiểm soát viên.
5. Hội đồng thành viên hoặc người được ủy quyền quyết định việc trích, tạm trích quỹ khen thưởng, phúc lợi, quỹ thưởng người quản lý, Kiểm soát viên, quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính theo quy định tại khoản 2 Điều này.
6. Khi kết quả tài chính trong năm bị lỗ, Quỹ được chuyển lỗ sang năm sau, thời gian được chuyển lỗ tính liên tục không quá 05 năm kể từ năm tiếp sau năm phát sinh lỗ. Trường hợp sau 05 năm, nếu Quỹ không chuyển hết lỗ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.”
* Lưu ý: Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng với Bộ Tài chính được hợp nhất thành Bộ Tài chính (căn cứ mục 2.3 Phần II Kết luận số 121-KL/TW ngày 24/01/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XIII về tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XII một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và khoản 6 Điều 1 Nghị quyết số 176/2025/QH15 ngày 18/02/2025 của Quốc hội về cơ cấu tổ chức của Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khoá XV).
Theo đó, kết quả tài chính hằng năm của Quỹ được hiểu là số chênh lệch giữa tổng số thu nhập và tổng số chi phí phát sinh trong năm tài chính. Sau khi trả tiền phạt do vi phạm các quy định của pháp luật và bù đắp lỗ từ các năm trước, nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo luật định, trường hợp tổng thu nhập lớn hơn tổng chi phí, phần chênh lệch này coi như 100%, được phân phối như sau:
- Trích tối đa 25% vào quỹ đầu tư phát triển;
- Trích tối đa 20% vào quỹ dự phòng tài chính, mức tối đa của quỹ này không vượt quá 25% mức vốn điều lệ thực có của Quỹ;
- Trích quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi tối đa bằng 03 tháng lương thực hiện trong năm tài chính của người lao động và quỹ thưởng người quản lý, Kiểm soát viên tối đa bằng 1,5 tháng lương thực hiện trong năm tài chính của người quản lý, Kiểm soát viên;
- Số còn lại sau khi trích các quỹ trên được bổ sung vào quỹ đầu tư phát triển;
- Trường hợp chênh lệch thu - chi còn lại sau khi trích lập quỹ đầu tư phát triển mà không đủ nguồn để trích các quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ thưởng người quản lý, Kiểm soát viên theo mức quy định thì Quỹ được giảm trích lập quỹ đầu tư phát triển để bổ sung nguồn trích lập đủ quỹ khen thưởng, phúc lợi, quỹ thưởng người quản lý, Kiểm soát viên theo mức quy định nhưng mức giảm tối đa không quá mức trích vào quỹ đầu tư phát triển trong năm tài chính;
- Hội đồng thành viên là chủ thể quyết định mức trích quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính, quỹ khen thưởng, phúc lợi, quỹ thưởng người quản lý, Kiểm soát viên.
Cơ chế phân phối này phản ánh rõ sự hài hòa giữa lợi ích phát triển tổ chức và lợi ích của con người. Việc ưu tiên cho quỹ đầu tư phát triển thể hiện định hướng lâu dài, giúp Quỹ có điều kiện tăng cường năng lực tài chính và tái đầu tư vào các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đồng thời, việc trích quỹ khen thưởng và phúc lợi lại nhấn mạnh yếu tố con người, nguồn lực quan trọng nhất bảo đảm sự vận hành hiệu quả và bền vững. Quy định này cũng khẳng định nguyên tắc công bằng và khuyến khích, khi việc trích lập phụ thuộc vào kết quả tài chính thực tế và hiệu quả hoạt động của Quỹ.
Bên cạnh đó, trích lập quỹ khen thưởng, phúc lợi được thực hiện như sau:
- Quỹ xếp loại A được trích 3 tháng lương thực hiện của người lao động cho hai quỹ khen thưởng, phúc lợi;
- Quỹ xếp loại B được trích 1,5 tháng lương thực hiện của người lao động cho hai quỹ khen thưởng, phúc lợi;
- Quỹ xếp loại C được trích 01 tháng lương thực hiện của người lao động cho hai quỹ khen thưởng, phúc lợi.
Ngoài ra, còn có trích lập quỹ thưởng người quản lý, Kiểm soát viên:
- Quỹ xếp loại A được trích 1,5 tháng lương thực hiện của người quản lý, Kiểm soát viên;
- Quỹ xếp loại B được trích 01 tháng lương thực hiện của người quản lý, Kiểm soát viên;
- Quỹ xếp loại C thì không được trích lập quỹ thưởng của người quản lý, Kiểm soát viên.
Việc phân loại gắn liền với chế độ thưởng phúc lợi giúp tạo động lực thi đua và khuyến khích hiệu quả hoạt động. Quỹ có kết quả tốt sẽ nhận được mức phân bổ cao hơn, từ đó khuyến khích tinh thần làm việc trách nhiệm, sáng tạo và hiệu quả trong toàn hệ thống.
Hội đồng thành viên hoặc người được ủy quyền quyết định việc trích, tạm trích quỹ khen thưởng, phúc lợi, quỹ thưởng người quản lý, Kiểm soát viên, quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính theo khoản 2 Điều 50 Nghị định số 39/2019/NĐ-CP. Khi kết quả tài chính trong năm bị lỗ, Quỹ được chuyển lỗ sang năm sau, thời gian được chuyển lỗ tính liên tục không quá 05 năm kể từ năm tiếp sau năm phát sinh lỗ. Trường hợp sau 05 năm, nếu Quỹ không chuyển hết lỗ, Bộ Tài chính báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định. Cơ chế này giúp Quỹ có thời gian khắc phục khó khăn tài chính mà không bị ảnh hưởng quá nặng nề ngay lập tức. Đồng thời, giới hạn thời gian 05 năm thể hiện tính chặt chẽ trong quản lý nhà nước, tránh kéo dài tình trạng thua lỗ hoặc thất thoát nguồn lực công.
Như vậy, điều khoản về phân phối kết quả tài chính của Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa không chỉ xác lập cơ chế quản lý minh bạch, công bằng mà còn khuyến khích hiệu quả hoạt động và phát triển bền vững. Sự kết hợp giữa tính kỷ luật tài chính và yếu tố nhân văn đã tạo nên nền tảng quan trọng để Quỹ thực hiện đúng mục tiêu hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, động lực quan trọng của nền kinh tế quốc gia.
2. Quản lý và sử dụng các quỹ được thực hiện ra sao?
Trong quá trình hoạt động của Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, việc quản lý và sử dụng các quỹ giữ vai trò then chốt trong đảm bảo hiệu quả tài chính, minh bạch trong điều hành và duy trì động lực làm việc của đội ngũ cán bộ, người lao động. Vì vậy, Điều 51 Nghị định số 39/2019/NĐ-CP được sửa đổi bởi Nghị định số 45/2024/NĐ-CP đã xây dựng cơ chế quản lý và sử dụng các quỹ như sau:
“Điều 51. Quản lý và sử dụng các quỹ
1. Việc sử dụng các quỹ phải đúng quy định, mục đích, đúng đối tượng.
a) Quỹ xây dựng, ban hành quy chế quản lý, sử dụng các quỹ theo quy định của pháp luật, đảm bảo dân chủ, minh bạch, có sự tham gia của Ban Chấp hành công đoàn Quỹ và công khai trong Quỹ trước khi thực hiện;
b) Trong năm tài chính, Quỹ được chủ động tạm trích các quỹ trên cơ sở kết quả hoạt động để có nguồn chi sử dụng các quỹ theo mục đích đã quy định;
c) Định mức chi khen thưởng người lao động, chi phúc lợi do Hội đồng thành viên ban hành.
2. Quỹ đầu tư phát triển được dùng để:
a) Thực hiện các dự án đầu tư phát triển của Quỹ bao gồm: đầu tư, mở rộng và phát triển hoạt động hỗ trợ của Quỹ; chương trình, dự án đầu tư xây dựng mới, dự án cải tạo, nâng cấp, mở rộng các dự án đã đầu tư xây dựng, dự án mua sắm tài sản, kể cả thiết bị, máy móc không cần lắp đặt, dự án sửa chữa, nâng cấp tài sản, thiết bị; dự án, đề tài nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, hỗ trợ kỹ thuật, điều tra cơ bản; đào tạo và nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ cho người lao động, người quản lý, Kiểm soát viên; các chương trình, dự án, đề án đầu tư phát triển khác;
b) Tài trợ vốn đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo, doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị; thực hiện các hoạt động hỗ trợ tăng cường năng lực đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa;
c) Bổ sung vốn điều lệ cho Quỹ.
3. Quỹ dự phòng tài chính được dùng theo thứ tự ưu tiên sau:
a) Bù đắp những tổn thất, thiệt hại về tài sản, công nợ không đòi được xảy ra trong hoạt động sau khi đã được bù đắp bằng tiền bồi thường của tổ chức, cá nhân gây ra tổn thất, của tổ chức bảo hiểm và sử dụng dự phòng được hạch toán vào chi phí trong kỳ;
b) Xử lý rủi ro cho vay sau khi đã sử dụng hết dự phòng rủi ro cho vay được trích lập từ chi phí theo quyết định của Hội đồng thành viên;
c) Cuối năm, nếu không sử dụng hết quỹ dự phòng tài chính, số dư của quỹ được chuyển sang năm tiếp theo, số tiền thu hồi được từ các khoản đã được xử lý rủi ro được hạch toán vào thu nhập khác của Quỹ.
4. Quỹ khen thưởng được sử dụng để thưởng cuối năm, thưởng thường kỳ, thưởng đột xuất, thường theo quy định của pháp luật về thi đua khen thưởng cho người lao động, tập thể Quỹ; thưởng cho người quản lý, Kiểm soát viên đối với những khoản thưởng theo quy định pháp luật về thi đua khen thưởng; thưởng cho cá nhân, đơn vị ngoài Quỹ có đóng góp nhiều cho hoạt động của Quỹ.
5. Quỹ thưởng người quản lý, Kiểm soát viên được sử dụng để thưởng cuối năm, thưởng thường kỳ, thưởng đột xuất, thưởng khi kết thúc nhiệm kỳ của người quản lý, Kiểm soát viên. Mức thưởng do Bộ Kế hoạch và Đầu tư quyết định theo mức độ hoàn thành nhiệm vụ được giao và hiệu quả hoạt động của Quỹ trên cơ sở đề nghị của Chủ tịch Hội đồng thành viên.
6. Quỹ phúc lợi được sử dụng để chi cho các hoạt động thể thao, văn hóa, phúc lợi cho người lao động, người quản lý, Kiểm soát viên; chi phúc lợi công cộng, từ thiện; chi trợ cấp khó khăn thường xuyên, đột xuất, chi chế độ cho người lao động, người quản lý, Kiểm soát viên trong các ngày lễ, Tết; chi đầu tư xây dựng hoặc sửa chữa các công trình phúc lợi của Quỹ và các hoạt động phúc lợi khác.”
Theo đó, việc sử dụng các quỹ phải đúng quy định, mục đích, đúng đối tượng, cụ thể:
- Quỹ sẽ xây dựng, ban hành quy chế quản lý, sử dụng các quỹ theo luật định, đảm bảo dân chủ, minh bạch, có sự tham gia của Ban Chấp hành công đoàn Quỹ và công khai trong Quỹ trước khi thực hiện;
- Trong năm tài chính, Quỹ được chủ động tạm trích các quỹ trên cơ sở kết quả hoạt động để có nguồn chi sử dụng các quỹ theo mục đích đã quy định;
- Định mức chi khen thưởng người lao động, chi phúc lợi do Hội đồng thành viên ban hành.
Nội dung này thể hiện tính tuân thủ và minh bạch trong quản trị tài chính, tránh tình trạng tùy tiện, thiếu kiểm soát. Việc công khai và có sự tham gia của công đoàn giúp tạo niềm tin cho người lao động, đồng thời khẳng định vai trò tự chủ của Quỹ trong việc sử dụng nguồn tài chính phục vụ mục tiêu phát triển chung.
Về Quỹ đầu tư phát triển, Quỹ này được dùng để:
- Thực hiện các dự án đầu tư phát triển của Quỹ bao gồm: Đầu tư, mở rộng và phát triển hoạt động hỗ trợ của Quỹ; chương trình, dự án đầu tư xây dựng mới, dự án cải tạo, nâng cấp, mở rộng các dự án đã đầu tư xây dựng, dự án mua sắm tài sản, kể cả thiết bị, máy móc không cần lắp đặt, dự án sửa chữa, nâng cấp tài sản, thiết bị; dự án, đề tài nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, hỗ trợ kỹ thuật, điều tra cơ bản; đào tạo và nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ cho người lao động, người quản lý, Kiểm soát viên; các chương trình, dự án, đề án đầu tư phát triển khác;
- Tài trợ vốn đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo, doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị; thực hiện các hoạt động hỗ trợ tăng cường năng lực đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa;
- Bổ sung vốn điều lệ cho Quỹ.
Đây là Quỹ mang tính chiến lược lâu dài, góp phần trực tiếp vào việc mở rộng năng lực hoạt động của Quỹ và hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển. Việc sử dụng quỹ đầu tư phát triển giúp bảo đảm tính bền vững, sáng tạo và đổi mới, đồng thời thể hiện cam kết của Nhà nước trong việc tạo môi trường tài chính thuận lợi cho khu vực doanh nghiệp tư nhân.
Tiếp đến, Quỹ dự phòng tài chính được dùng theo thứ tự ưu tiên sau:
- Bù đắp những tổn thất, thiệt hại về tài sản, công nợ không đòi được xảy ra trong hoạt động sau khi đã được bù đắp bằng tiền bồi thường của tổ chức, cá nhân gây ra tổn thất, của tổ chức bảo hiểm và sử dụng dự phòng được hạch toán vào chi phí trong kỳ;
- Xử lý rủi ro cho vay sau khi đã sử dụng hết dự phòng rủi ro cho vay được trích lập từ chi phí theo quyết định của Hội đồng thành viên;
- Cuối năm, nếu không sử dụng hết quỹ dự phòng tài chính, số dư của quỹ được chuyển sang năm tiếp theo, số tiền thu hồi được từ các khoản đã được xử lý rủi ro được hạch toán vào thu nhập khác của Quỹ.
Quỹ dự phòng tài chính đóng vai trò như lá chắn an toàn tài chính của tổ chức. Giúp Quỹ chủ động ứng phó với những biến động bất ngờ, bảo vệ nguồn vốn trước các rủi ro về tín dụng hoặc thiệt hại tài sản. Nhờ đó, hoạt động của Quỹ được duy trì ổn định và không bị gián đoạn khi gặp khó khăn tài chính.
Còn đối với Quỹ khen thưởng, được sử dụng để thưởng cuối năm, thưởng thường kỳ, thưởng đột xuất, thường theo quy định của pháp luật về thi đua khen thưởng cho người lao động, tập thể Quỹ; thưởng cho người quản lý, Kiểm soát viên đối với những khoản thưởng theo quy định pháp luật về thi đua khen thưởng; thưởng cho cá nhân, đơn vị ngoài Quỹ có đóng góp nhiều cho hoạt động của Quỹ. Là công cụ khích lệ tinh thần làm việc và ghi nhận thành tích của tập thể, cá nhân. Việc mở rộng phạm vi thưởng cho cả các tổ chức, cá nhân ngoài Quỹ thể hiện sự linh hoạt và ghi nhận đóng góp cộng đồng, khuyến khích sự hợp tác và phát triển mối quan hệ bền vững giữa Quỹ và các đối tác.
Quỹ thưởng người quản lý, Kiểm soát viên, đây là Quỹ được sử dụng để thưởng cuối năm, thưởng thường kỳ, thưởng đột xuất, thưởng khi kết thúc nhiệm kỳ của người quản lý, Kiểm soát viên. Mức thưởng do Bộ Tài chính quyết định theo mức độ hoàn thành nhiệm vụ được giao và hiệu quả hoạt động của Quỹ trên cơ sở đề nghị của Chủ tịch Hội đồng thành viên.
Ngoài ra, Quỹ phúc lợi được sử dụng để chi cho các hoạt động thể thao, văn hóa, phúc lợi cho người lao động, người quản lý, Kiểm soát viên; chi phúc lợi công cộng, từ thiện; chi trợ cấp khó khăn thường xuyên, đột xuất, chi chế độ cho người lao động, người quản lý, Kiểm soát viên trong các ngày lễ, Tết; chi đầu tư xây dựng hoặc sửa chữa các công trình phúc lợi của Quỹ và các hoạt động phúc lợi khác.
Như vậy, điều luật trên đã xây dựng một khung pháp lý toàn diện, rõ ràng và nhân văn trong quản lý và sử dụng các quỹ của Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Các quy định này không chỉ đảm bảo tính công khai, minh bạch trong tài chính mà còn đề cao trách nhiệm, hiệu quả, và quyền lợi của người lao động. Qua đó, Quỹ không chỉ là công cụ tài chính hỗ trợ doanh nghiệp mà còn là tổ chức hướng đến phát triển bền vững, lấy con người làm trung tâm và hiệu quả xã hội làm mục tiêu lâu dài.
Trân trọng./.