NGUỒN ÁN LỆ VỀ VIỆC TRANH CHẤP LIÊN QUAN ĐẾN TÀI SẢN BỊ CƯỠNG CHẾ ĐỂ THI HÀNH ÁN THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ (QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 301/2024/DS-GĐT)

Quyết định giám đốc thẩm số 301/2024/DS-GĐT ngày 27/12/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh hủy bản án dân sự phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh; hủy Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Tây Ninh về việc tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự

Nội dung hủy án:

“[4.3] Về hồ sơ công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 09/6/2023, số công chứng 4077, quyển số 06/2023 TP/CC-SCC/HĐGD do Phòng công chứng số 3 chứng thực: Tại Công văn số 78/CC3 ngày 28/8/2023, Phòng công chứng số 3 trình bày “Khi tiến hành công chứng, công chứng viên đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục công chứng, thành phần hồ sơ đầy đủ, các bên tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật và xác định việc công chứng hợp đồng chuyển nhượng đúng theo quy định của pháp luật” nhưng tại Biên bản xác minh ngày 27/9/2023, Phòng công chứng số 3 lại cung cấp thông tin “Khoảng 18 giờ, ngày 08/6/2023, chuyên viên Phòng công chứng số 3 đến nhà riêng của bà X. Tại đây, ông N1, bà X đồng ý việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên và đã đọc lại toàn văn hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (HĐCNQSDĐ) giữa các bên, đồng thời, ông N1, bà X tự nguyện ký tên, lăn tay và viết nội dung “Chúng tôi đã đọc và đồng ý”. Ông L1, bà T1 và Phòng công chứng số 3, tỉnh Tây Ninh không ai ép buộc ông N1, bà X ký tên vào HĐCNQSDĐ…

Theo quy định của pháp luật, việc Phòng công chứng lấy chữ ký, chữ viết của một trong các bên chuyển nhượng thực hiện ngoài trụ sở Phòng công chứng là được phép, không có gì sai và mặc dù tại thời điểm ông L1, bà T1 đến Phòng công chứng số 3, tỉnh Tây Ninh để yêu cầu công chứng HĐCNQSDĐ thì Giấy CNQSDĐ của ông N1 và bà X chưa xóa thế chấp nhưng ông N1, bà X đã thực hiện xong nghĩa vụ tất toán nợ đối với Ngân hàng”. Như vậy, theo Biên bản xác minh nêu trên thì ngày giờ công chứng Hợp đồng chuyển nhượng là sau ngày ông N1, bà X ký vào Hợp đồng. Tòa án hai cấp chưa làm rõ, vào ngày 09/6/2023 thì ông N1, bà X có quay lại Phòng công chứng số 3 không? Có thay đổi ý kiến không? Công chứng viên soạn lời chứng ở đâu? Trong khi Hợp đồng chuyển nhượng ngày 09/3/2023 lại thể hiện lời chứng “Ngày 09/6/2023, tại nhà riêng của bà Nguyễn Thị X, địa chỉ: Ấp TN, xã TĐ, huyện TC, tỉnh Tây Ninh, bà Nguyễn Thị X đã đọc lại, đồng ý toàn bộ nội dung và đã ký vào từng trang của hợp đồng trước mặt tôi; chữ ký trong hợp đồng đúng là chữ ký của bà Nguyễn Thị X (Do bà X mới bị tai nạn gãy chân nên không thể đến phòng công chứng số 3, tỉnh Tây Ninh được)”. Lời chứng này là mâu thuẫn với chính lời trình bày của Công chứng viên là “Khoảng 18h ngày 08/6/2023, ông N1, bà X đồng ý việc chuyển nhượng tại nhà riêng của bà X… Đến ngày 09/6/2023, giờ phút cụ thể không rõ nhưng sau khi Giấy CNQSDĐ của ông N1, bà X được xóa thế chấp thì ông L1, bà T1 mới ký HĐCNQSDĐ và Phòng công chứng số 3 mới soạn lời chứng thực và công chứng HĐCNQSDĐ nêu trên của các bên” và không phù hợp với hồ sơ yêu cầu công chứng, thông tin tra cứu xóa thế chấp và hồ sơ giải chấp tại Ngân hàng.

Tòa án hai cấp nhận định “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 09/6/2023 giữa ông N1, bà X với ông L1, bà T1… được lập thành văn bản và được công chứng tại Phòng công chứng số 3, tỉnh Tây Ninh là đảm bảo hình thức của Hợp đồng chuyển nhượng theo quy định tại Điều 502 Bộ luật Dân sự và các Điều 167, Điều 188 Luật Đất đai” là chưa đảm bảo.

[4.4] Tài sản tranh chấp hiện đang phải thi hành theo Quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự. Bản án sơ thẩm tuyên xử “Kiến nghị Chi cục thi hành án dân sự huyện TC, tỉnh Tây Ninh sửa đổi Quyết định về việc cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 38/QĐ.CCTHADS ngày 28/6/2023 cho phù hợp với quyết định của Bản án”, còn Bản án phúc thẩm nhận định “sửa nội dung này của Bản án sơ thẩm, vì sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật, cơ quan thi hành án sẽ căn cứ Điều 37 Luật Thi hành án dân sự để thu hồi, sửa đổi Quyết định về thi hành án” là không đúng. Trong trường hợp này, căn cứ để thu hồi, sửa đổi Quyết định thi hành án và Quyết định cưỡng chế, kê biên quyền sử dụng đất phải căn cứ vào Điều 105 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014. Tuy nhiên, đây là tài sản bị kê biên, cưỡng chế thi hành án để thực hiện Quyết định số 42/2023/QĐST-DS đã có hiệu lực pháp luật nên phải được thực hiện theo đúng trình tự quy định tại khoản 2 Điều 47 Luật Thi hành án dân sự.”