NGUỒN ÁN LỆ VỀ VIỆC TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG (QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 06/2025/KDTM-GĐT)

Quyết định giám đốc thẩm số 06/2025/KDTM-GĐT ngày 14/5/2025 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội hủy Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội và Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội về việc tranh chấp hợp đồng xây dựng

Nội dung hủy án:

“[5] Theo lời trình bày của các đương sự, gói thầu số 02 do L thi công có 02 giai đoạn sửa chữa hư hỏng trong thời gian bảo hành gồm giai đoạn sửa chữa thực hiện trước ngày 31/12/2014 (đã được L thuê Công ty H thực hiện việc sửa chữa) và giai đoạn sửa chữa sau ngày 31/12/2014. BOT Đ cho rằng trước khi thuê bên thứ 3 vào thực hiện sửa chữa hư hỏng công trình trong thời gian từ ngày 31/12/2014 đến 19/5/2016, BOT Đ đã nhiều lần có các văn bản thông báo số 174/BOT.ĐD ngày 25/8/2015; số 226/BOT.ĐD ngày 25/12/2015; số 04E/BOT.ĐD ngày 15/01/2016; số 72/BOT.ĐD ngày 02/04/2016 đề nghị L khắc phục, sửa chữa các hư hỏng công trình theo đúng điều khoản bảo hành đã ký trong hợp đồng nhưng L đưa lý do không huy động được máy móc, thiết bị nhân công để sửa chữa và đồng ý để BOT Đ tiếp tục thuê nhà thầu thứ 3 vào thực hiện công việc sửa chữa theo Biên bản làm việc ngày 09/5/2016, Công văn số 471/CV-L ngày 22/9/2016. Tuy nhiên, người đại diện hợp pháp của L trình bày không nhận được các thông báo của BOT Đ. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chưa thu thập tài liệu chứng cứ là các văn bản nêu trên cũng như các tài liệu chứng cứ chứng minh L đã nhận được các văn bản này để xác định trách nhiệm của L trong việc thực hiện bảo hành công trình theo đúng điều khoản về bảo hành đã ký giữa các bên là thiếu sót trong việc thu thập tài liệu chứng cứ.

[6] Tại Công văn số 471/CV-L ngày 22/9/2016 của L gửi BOT Đ thể hiện nội dung: L xác nhận các hạng mục công trình trên tuyến bị hư hỏng của gói thầu số 1A và gói thầu số 02 cần sửa chữa trước khi nghiệm thu hết bảo hành (kèm theo Biên bản hiện trường ngày 19/5/2016). Do L đã giải thể toàn bộ nhân lực, máy móc, thiết bị phục vụ thi công sau khi thi công xong gói thầu số 1A và gói thầu số 2, kết hợp với tình hình tài chính đang rất khó khăn (BOT Đ chưa chuyển trả hết số tiền đã quyết toán với nhà thầu); đề nghị Chủ đầu tư trực tiếp liên hệ với đơn vị thứ 3 để sửa chữa các hư hỏng của gói thầu số 1A và gói thầu số 2, mọi chi phí được tính vào tiền bảo hành công trình của nhà thầu. Nội dung công văn nêu trên thể hiện L chấp nhận thanh toán sửa chữa cho bên thứ 3 từ sau ngày xác định hư hỏng (ngày 19/5/2016); không thể hiện L đồng ý thanh toán cho bên thứ 3 các chi phí sửa chữa hư hỏng trước ngày ký biên bản hiện trường 19/5/2016. Tuy nhiên, trước khi BOT Đ và L lập Biên bản hiện trường ngày 19/5/2016 để xác nhận các hư hỏng cần sửa chữa thì BOT Đ đã ký các hợp đồng với bên thứ 3 là Xí nghiệp Tư doanh vận tải H1 (theo Hợp đồng thi công xây dựng số 0107/2015/HĐXD ngày 01/7/2015 sửa chữa mặt đường bê tông nhựa), Công ty H (theo Hợp đồng thi công xây dựng số 1212/2015/HĐXD ngày 15/12/2015 sửa chữa mặt đường bê tông nhựa), Công ty cổ phần xây dựng vận tải biển G (theo Hợp đồng thi công xây dựng số 1312/2015/HĐXD ngày 25/12/2015 về vạch tín hiệu giao thông trên mặt đường) để sửa chữa, khắc phục phần hư hỏng mà BOT Đ cho rằng do L thực hiện. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm căn cứ vào các Biên bản hiện trường ngày 19/5/2016, ngày 26/10/2016, ngày 15/12/2016, Công văn số 471/CV-L ngày 22/9/2016 của L và Biên bản xác nhận ngày 28/7/2017 giữa BOT Đ và các nhà thầu thứ 3 để buộc L phải trả số tiền sửa chữa bảo hành là 10.749.123.368đ là chưa đủ cơ sở.

[7] Theo Hợp đồng thi công xây dựng số 0107/2015/HĐXD ngày 01/7/2015 giữa BOT Đ và Xí nghiệp Tư doanh vận tải H1 (viết tắt là Xí nghiệp H1) và Phụ lục số 01 thể hiện Xí nghiệp H1 thực hiện cào bóc toàn bộ lớp bê tông 12cm. Thực tế, theo Bảng xác định giá trị khối lượng công việc hoàn thành theo hợp đồng đề nghị quyết toán số tiền 8.520.788.822đ thể hiện Xí nghiệp H1 thực hiện cào bóc lớp mặt đường bê tông Asphalt dày 3-7cm (dưới 5cm là chưa bóc hết lớp bê tông mịn) và cào bóc lớp mặt đường bê tông Asphalt dày 12cm. Như vậy có các vị trí hỏng khác nhau (hỏng bê tông mịn 5cm và hỏng phần bê tông tầng trung 7cm). Tuy nhiên, hồ sơ vụ án không thể hiện có biên bản hiện trường giữa Chủ đầu tư và nhà thầu xác định hư hỏng như thế nào; Biên bản hiện trường ngày 19/5/2016 được lập sau khi đã sửa chữa năm 2015 và không thể hiện khối lượng đã sửa năm 2014 có tiếp tục bị hỏng không? hỏng bao nhiêu? sau khi sửa năm 2015 tiếp tục hỏng bao nhiêu? hỏng như thế nào? hằn lún 5cm ở lớp bê tông mịn phía trên hay cả lớp bê tông dưới dày 7cm? Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chưa làm rõ các nội dung trên nhưng đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của BOT Đ cũng là chưa đủ cơ sở.”