NGUỒN ÁN LỆ VỀ VIỆC TRANH CHẤP BỒI THƯỜNG BẢO HIỂM TÀU CÁ (QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 11/2023/KDTM-GĐT)

Quyết định giám đốc thẩm số 11/2023/KDTM-GĐT ngày 22/4/2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội hủy Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm của Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hóa và Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa về việc tranh chấp bồi thường bảo hiểm tàu cá.

Nội dung hủy án:

“[4] Theo quy định tại Điều 14 Luật kinh doanh bảo hiểm thì Giấy chứng nhận bảo hiểm khai thác hải sản số 2298034 cho tàu TH-90803-TS là bằng chứng giao kết hợp đồng bảo hiểm cho tàu TH-90803-TS giữa B T và anh Lê Văn H. Tại phần ghi chú ở phía dưới cùng của Giấy chứng nhận bảo hiểm có nội dung: “Doanh nghiệp bảo hiểm đã cung cấp đầy đủ thông tin quy tắc bảo hiểm cho chủ tàu, người được bảo hiểm, giải thích hướng dẫn đầy đủ về quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm liên quan”. Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng Giấy chứng nhận bảo hiểm ngày 22/10/2018 ghi chú như nêu trên là văn bản đơn phương của doanh nghiệp bảo hiểm nên không có căn cứ xác định người mua bảo hiểm đã nhận được thông tin về quy tắc loại trừ bảo hiểm. Tuy nhiên, giấy chứng nhận bảo hiểm là bằng chứng giao kết hợp đồng bảo hiểm, anh H khi tham gia bảo hiểm buộc phải biết các quy tắc đi kèm giấy chứng nhận bảo hiểm. Các quy tắc, điều khoản, biểu phí bảo hiểm đi kèm Giấy chứng nhận bảo hiểm khai thác hải sản số 2298034 cho tàu TH-90803-TS đã được chấp thuận đăng ký theo Công văn số 18759/BTC-QLBH ngày 16/12/2015 của Bộ Tài chính. Vì vậy, Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng không có tài liệu thể hiện việc các bên cùng nhau ghi nhận về điều khoản loại trừ bảo hiểm nên anh H không được biết các quy tắc loại trừ bảo hiểm là không có cơ sở.

[5] Tại lời khai ban đầu ngày 14/10/2019 (ngay sau thời điểm xảy ra sự cố tàu) khi làm việc với Công ty B T và lời khai ngày 15/10/2020 khi làm việc với Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thanh Hóa ông Nguyễn Xuân Th đều thừa nhận việc mình không có mặt trên tàu vào đêm 13 rạng sáng ngày 14/10/2019 là thời điểm xảy ra sự cố cháy tàu cá TH-90803-TS. Công ty B T cung cấp file ghi âm thanh, hình ảnh việc ông Th ghi lời khai tại trụ sở Đồn biên phòng là hoàn toàn tự nguyện. Mặc dù lời khai này, cán bộ đồn biên phòng - anh Trịnh Hồng G khai không chứng kiến và không biết sự việc cháy, nhưng anh G đã đọc lại cho ông Th nghe và ký vào phần người làm chứng và khẳng định không có sự hăm dọa, ép buộc tại trụ sở Đồn biên phòng. Cũng tại lời khai ban đầu này, ông Th khẳng định ở nhà ăn cơm tối rồi đi ngủ, sáng hôm sau thì con trai ông Th báo cho ông Th biết anh H gọi điện cho con trai ông Th báo tàu cháy. Lời khai của ông Th phù hợp với lời khai của những người phát hiện ra tàu TH-90803-TS cháy và tham gia chữa cháy đầu tiên là ông Nguyễn Văn L và anh Nguyễn Văn T (ở tại xưởng sửa chữa tàu thuyền, thôn X, xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa):“Tại thời điểm cháy không thấy có ai trên tàu”. Sau này ông Th đã thay đổi lời khai, cho rằng tại thời điểm xảy ra cháy ông có mặt tại hiện trường nhưng ông không đưa ra được chứng cứ chứng minh. Những người tham gia chữa cháy không ai nhìn thấy ông Th tham gia chữa cháy.

[6] Mặt khác, tại Công văn số 3452/PC01 ngày 04/8/2021 của Công an tỉnh Thanh Hóa phúc đáp Công văn số 1720/CV-TA của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa có nội dung: tại thời điểm tàu TH-90803-TS bị cháy vào khoảng 00h30’ ngày 14/10/2019 trên tàu không có người trông coi. Do đó, có căn cứ xác định tại thời điểm xảy ra cháy tài thì trên tàu TH-90803-TS không có người trông coi và thuộc trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm của Công ty bảo hiểm B. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm buộc Công ty bảo hiểm B bồi thường số tiền bảo hiểm tàu cá là 1.700.000.000đ là chưa đủ cơ sở.

[7] Giấy chứng nhận bảo hiểm khai thác hải sản số 2298034 cho tàu TH-90803-TS quy định tỷ lệ đồng bảo hiểm như sau: DNBH đứng đầu: B 55%; DNBH đồng BH 1: M 15%; DNBH đồng BH2: P 15%; DNBH đồng BH 3: P 15%. Theo đó, 04 doanh nghiệp đồng bảo hiểm cùng chịu trách nhiệm về những cam kết trong hợp đồng bảo hiểm và có nghĩa vụ chuyển tiền bồi thường sau khi đối trừ phí đồng bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm đứng đầu là Tổng Công ty bảo hiểm B. Mặc dù, giữa 04 Công ty bảo hiểm này ký Hợp đồng nguyên tắc bảo hiểm có thỏa thuận về việc: Công ty bảo hiểm đứng đầu (trên địa bàn Thanh Hóa là Tổng công ty bảo hiểm B) chủ động thực hiện toàn bộ công tác giám định, giải quyết bồi thường, trả tiền bồi thường, giải quyết khiếu kiện và đòi người thứ ba theo quy định của hợp đồng bảo hiểm hoặc giấy chứng nhận bảo hiểm (Điều 2). Nhưng Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm không thu thập “Hợp đồng nguyên tắc bảo hiểm” để xem xét, đánh giá khi giải quyết vụ án là thu thập tài liệu, chứng cứ không đầy đủ. Do đó, kháng nghị của Viện kiểm sát cấp cao tại Hà Nội là có cơ sở.”