Nguồn án lệ về việc khiếu kiện quyết định thu hồi đất và phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ, quyết định cưỡng chế (Quyết định giám đốc thẩm số 06/2023/HC-GĐT)
NGUỒN ÁN LỆ VỀ VIỆC KHIẾU KIỆN QUYẾT ĐỊNH THU HỒI ĐẤT VÀ PHÊ DUYỆT KINH PHÍ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, QUYẾT ĐỊNH CƯỠNG CHẾ (QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 06/2023/HC-GĐT)
Quyết định giám đốc thẩm số 06/2023/HC-GĐT ngày 12/4/2023 của Tòa án nhân dân tối cao hủy Bản án hành chính phúc thẩm của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và hủy Bản án hành chính sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về việc khiếu kiện quyết định thu hồi đất và phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ, quyết định cưỡng chế.
Nội dung hủy án:
“[5]. Hồ sơ vụ án thể hiện, tại giấy xác nhận đã nhận đơn khởi kiện số 211/GXN-TA ngày 12/12/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có nội dung Tòa án đã nhận được đơn khởi kiện của ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị N đề ngày 12/12/2018 do ông M nộp trực tiếp tại Tòa án, yêu cầu hủy Quyết định số 7934 và Quyết định số 6606 của Chủ tịch UBND thành phố V; làm rõ việc sử dụng đất, vị trí đất, ranh giới đất của ông Đặng Đình T; kiểm kê nhà cửa chuồng trại, cây trồng, diện tích đất đền bù thực tế theo quy định. Tại Đơn kháng cáo đề ngày 27/9/2019, ông M và bà N trình bày ông bà đã làm đơn khởi kiện được Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thụ lý số 211/GXN-TA ngày 12/12/2018, sau đó vì sáp nhập vụ án và Tòa án hướng dẫn, vận động ông bà rút đơn và làm bản yêu cầu độc lập. Tuy nhiên, hồ sơ vụ án thì không có tài liệu thể hiện Tòa án cấp sơ thẩm có thụ lý đơn khởi kiện của ông M, bà N hay không? Nếu đã thụ lý thì Tòa án có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án (trong trường hợp ông M, bà N có đơn rút đơn khởi kiện) hay không?
Trong vụ án này (theo Thông báo thụ lý vụ án số 191/2018/TLST-HC ngày 27/9/2019), Tòa án cấp sơ thẩm đưa ông M và bà N tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tại các Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại vào các ngày 12/10/2018, 09/01/2019, 15/3/2019 và tại Biên bản làm việc ngày 11/01/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Đơn yêu cầu độc lập đề ngày 09/8/2019, ông M, bà N đều có yêu cầu Tòa án hủy tất cả các quyết định thu hồi trên phần đất khoảng 4 ha, trả lại đất cho ông, bà và ông T; buộc Ủy ban nhân dân thành phố Vũng Tàu phải thực hiện theo chỉ đạo tại Mục 2, Điều 1 Quyết định số 2407/QĐ-UBND ngày 23/10/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; buộc các cơ quan liên quan phải thực hiện theo Văn bản chỉ đạo số 2789 ngày 17/7/2013 của UBND thành phố V. Tuy nhiên, không có tài liệu thể hiện Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thụ lý hay không thụ lý đối với yêu cầu độc lập của ông M, bà N là sai.
[6]. Tòa án cấp phúc thẩm không phát hiện ra vi phạm của Tòa án cấp sơ thẩm và nhận định Trung đoàn 2xx không có giấy tờ về đất theo khoản 1 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 nay là Điều 100 Luật Đất đai năm 2013; phần đất tranh chấp đã được người dân sử dụng ổn định, do đó theo quy định tại khoản 4 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 nay là Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 thì các hộ dân được công nhận quyền sử dụng đất theo hiện trạng thực tế đang sử dụng; xác định trong phần diện tích đất bị thu hồi của ông M có khoảng 6.000 m2 đất của ông T nên cho rằng việc UBND thành phố V ban hành Quyết định số 2119 thu hồi đất và phê duyệt bồi thường, hỗ trợ cho ông M và bà N là không đúng đối tượng sử dụng đất, là không đúng. Từ đó, chấp nhận kháng cáo của ông T và một phần kháng cáo của ông M và bà N; sửa bản án hành chính sơ thẩm, xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T; hủy Quyết định số 2119 của UBND thành phố V và Quyết định số 7934, Quyết định số 6606 của Chủ tịch UBND thành phố V; buộc UBND thành phố V thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo đúng quy định của pháp luật là không có căn cứ pháp luật.”