Nguồn án lệ về việc khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai (Quyết định giám đốc thẩm số 11/2023/HC-GĐT)

NGUỒN ÁN LỆ VỀ VIỆC KHIẾU KIỆN QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI (QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 11/2023/HC-GĐT)

Quyết định giám đốc thẩm số 11/2023/HC-GĐT ngày 13/4/2023 của Tòa án nhân dân tối cao hủy Bản án hành chính phúc thẩm của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, Quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Phước và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất về việc khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai.

Nội dung hủy án:

“[2.3] Tuy nhiên, ngày 14/9/2011, Ủy ban nhân dân huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 194210 cho bà Hoàng Thị L đối với Thửa đất số 76, Tờ bản đồ số 16 cũng là không đúng, bởi lẽ: tại Bản án dân sự phúc thẩm số 39/DSPT ngày 12/5/1995, Tòa án nhân dân tỉnh Sông Bé đã quyết định bà L được quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất có diện tích 6.080 m2 tại Ấp 1, xã L, huyện B sau khi đã trả nợ cho ông K và trả bà D3 phần tài sản mà bà U được hưởng của ông H1. Bà L chưa trả cho ông K và bà D3, tức là chưa thi hành xong các khoản nợ nêu trên. Hơn nữa, theo Bản án dân sự phúc thẩm số 39/DSPT nêu trên thì thửa đất mà bà L được giao quyền sử dụng đã bị “quản thủ” để đảm bảo thi hành án.

[2.4] Ngày 12/9/2014, ông K khởi kiện vụ án hành chính đề nghị hủy Quyết định số 5227/QĐ-UBND; Quyết định số 519/QĐ-UBND và Quyết định số 1608/QĐ-UBND nêu trên, nhưng ngày 26/01/2015, bà L lập hợp đồng chuyển nhượng Thửa đất số 76, Tờ bản đồ số 16 cho ông Hà Duy P và ngày 14/02/2015, Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông P là không đúng; vì tại thời điểm chuyển nhượng ông K đã khởi kiện vụ án hành chính và là người đang sử dụng thửa đất nêu trên, thửa đất đang có tranh chấp giữa ông K và bà L, nên không thể xác định ông P là người thứ ba ngay tình.

Do đó, Quyết định số 519/QĐ-UBND ngày 12/3/2014 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C và Quyết định số 1608/QĐ-UBND ngày 24/7/2014 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Phước là không đúng quy định của pháp luật. Ngày 14/02/2015, Ủy ban nhân dân huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ở số BX 859739 cho ông Hà Duy P là không đúng.

[3] Tòa án cấp sơ thẩm xác định phần diện tích đất tranh chấp giữa hộ gia đình ông K với hộ gia đình ông T3 và giữa hộ gia đình ông K với gia đình bà L đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên theo quy định tại khoản 1 Điều 136 Luật Đất đai năm 2003 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án là không đúng, bởi lẽ căn cứ Điều 25 Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, thì Ủy ban nhân dân huyện C ban hành Quyết định số 5227/QĐ-UBND ngày 13/12/2010 thu hồi giấy chứng nhận sử dụng đất đã cấp cho hộ gia đình ông K để cấp lại là đúng.

[4] Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông K về việc hủy Quyết định số 519/QĐ-UBND ngày 12/3/2014 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, Quyết định số 1608/QĐ-UBND ngày 24/7/2014 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Phước là đúng; nhưng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông K về việc hủy Quyết định số 5227/QĐ-UBND ngày 13/12/2010, Quyết định số 2864/QĐ-UBND ngày 09/9/2011, Quyết định số 2118/QĐ-UBND ngày 19/10/2015 của Ủy ban nhân dân huyện C, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 194229 ngày 09/9/2011 của ông Trần Kim T3 và không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông K về việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 859739 ngày 14/02/2015 của ông Hà Duy P là không đúng.

[5] Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông K về việc hủy Quyết định số 5227/QĐ-UBND, Quyết định số 2864/QĐ-UBND, Quyết định số 2118/QĐ-UBND nêu trên và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 194229 ngày 09/9/2011 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Trần Kim T3 là có căn cứ. Tuy nhiên, Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông K về việc hủy Quyết định số 519/QĐ-UBND, Quyết định số 1608/QĐ-UBND nêu trên và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 859739 ngày 14/02/2015 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Hà Duy P là không đúng quy định của pháp luật. Khi Tòa án giải quyết lại phải hủy cả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà L ngày 14/9/2011.”