NGUỒN ÁN LỆ VỀ TỘI "LÀM GIẢ CON DẤU CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC" (QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 71/2024/HS-GĐT)

Quyết định giám đốc thẩm số 71/2024/HS-GĐT ngày 17/9/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh hủy một phần Bản án hình sự phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương và hủy một phần Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương về phần tội danh, hình phạt đối với tội “Làm giả con dấu của cơ quan, tổ chức” và phần tổng hợp hình phạt.

Nội dung hủy án:

[2] Xét nội dung kháng nghị về phần trách nhiệm hình sự của bị cáo Trương Đức T phạm tội danh ghép “Làm giả con dấu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu giả của cơ quan, tổ chức”:

...

Như vậy, bị cáo T không trực tiếp làm ra giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả, hành vi của T chỉ cung cấp thông tin và nhờ người khác làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mục đích sử dụng giấy tờ giả này, nói dối để tạo ra sự tin tưởng để bị hại cho bị cáo vay, sau đó bị cáo chiếm đoạt. Hành vi của Trrương Đức T chỉ cấu thành 01 tội danh là “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại Điều 341 Bộ luật hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm xét xử Trương Đức T về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”, cũng như kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xác định bị cáo T phạm tội danh ghép: “Tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo Điều 341 Bộ luật Hình sự đều chưa đúng với hành vi của bị cáo cũng như cấu thành của tội danh này.

[3] Xét nội dung kháng nghị về khung hình phạt của bị cáo Trương Đức T theo Điều 341 của Bộ luật Hình sự:

...

Trương Đức T đã có hành vi sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả để thực hiện hành vi phạm tội rất nghiêm trọng (hành vi của T đã bị truy tố và xét xử về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tù từ 07 đến 15 năm). Hành vi của bị cáo T đã phạm vào điểm b khoản 3 Điều 341 của Bộ luật Hình sự, Tòa án cấp sơ thẩm chỉ xét xử Trương Đức T phạm tội: “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự là chưa đúng với tội danh cũng như chưa đúng khung hình phạt theo quy định của pháp luật. Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo cũng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về nội dung bị cáo T phạm điểm b khoản 3 Điều 341 của Bộ luật Hình sự là không phù hợp với quy định của pháp luật.

[4] Theo kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có nội dung việc Tòa án cấp phúc thẩm xử phạt bị cáo theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự: “là có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật từ đó xử phạt mức án nhẹ, không tương xứng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây nên” và đề nghị hủy một phần bản án phúc thẩm về tội danh, hình phạt của bị cáo T về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” và hủy phần tổng hợp hình phạt. Xét thấy, hành vi của bị cáo T theo quy định của pháp luật phải bị xét xử theo điểm b khoản 3 Điều 341 của Bộ luật Hình sự (có khung hình phạt từ 03 đến 07 năm tù), do áp dụng sai lầm pháp luật nên Tòa án cấp sơ thẩm chỉ xử phạt bị cáo 06 tháng tù theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương chỉ kháng nghị với nội dung đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử bị cáo T về tội danh ghép “Làm giả con dấu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu giả của cơ quan, tổ chức” theo điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự mà không kháng nghị nội dung tăng hình phạt tù đối với bị cáo T, nên trong trường hợp chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, nếu hủy Bản án phúc thẩm về xét xử lại, do giới hạn của cấp phúc thẩm không thể tăng hình phạt tù đối với bị cáo T về hành vi thuê người làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Cần thiết hủy một phần bản án phúc thẩm và một phần bản án sơ thẩm về phần tội danh, hình phạt của bị cáo T đối với hành vi thuê người làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và phần tổng hợp hình phạt để giao cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại cho đúng tội danh và hình phạt theo đúng quy định của pháp luật.