Nguồn án lệ về tội “Đánh bạc” (Quyết định giám đốc thẩm số 16/2023/HS-GĐT)
NGUỒN ÁN LỆ VỀ TỘI “ĐÁNH BẠC” (QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 16/2023/HS-GĐT)
Quyết định giám đốc thẩm số 16/2023/HS-GĐT ngày 11/7/2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng hủy Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình về tội “Đánh bạc”.
Nội dung hủy án:
“[2] Tuy nhiên, Toà án cấp sơ thẩm đã quá nhấn mạnh đến các tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo để tuyên phạt các bị cáo hình phạt tù nhưng được hưởng án treo là không đúng. Cụ thể như sau:
[2.1] Cả 03 bị cáo (Nguyễn Thị Th, Phạm Thị H và Nguyễn Văn L) đều có nhân thân xấu: Thuyết và Hợp đã từng bị kết án về tội “Đánh bạc”, bị cáo Luật từng bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc, do đó, việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ “ăn năn hối cải” đối với các bị cáo là không đúng.
[2.2] Về tình tiết “ người phạm tội đã lập công chuộc tội” là trường hợp sau khi thực hiện tội phạm cho đến khi bị xét xử (sơ thẩm, phúc thẩm, GĐT, tái thẩm), người phạm tội không những ăn năn hối cải, tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm do họ thực hiện, mà họ còn có những hành động giúp đỡ các cơ quan có thẩm quyền phát hiện, ngăn chặn các tội phạm khác, tham gia phát hiện tội phạm, bắt kẻ phạm tội, có hành động thể hiện sự quên mình vì lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích chính đáng của người khác… được cơ quan có thẩm quyền khen thưởng hoặc chứng nhận (mục 5 Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP). Tuy nhiên, Toà án cấp sơ thẩm lại áp dụng tình tiết giảm nhẹ này cho các hành động của các bị cáo như: bị cáo Thuyết giao nộp 03 hộp pháp hoa chưa qua sử dụng có nguồn gốc từ vận động nhân dân giao nộp; bị cáo Hợp giao nộp 39 viên đạn AK nhặt được còn bị cáo Luật cung cấp thông tin về hành vi kinh doanh hàng hoá không có phép của một số đối tượng… là không phù hợp với quy định nêu trên.
[2.3] Mặt khác, các bị cáo đánh bạc với số tiền lớn (136.110.000 đồng), bị xử phạt về tội đánh bạc theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 BLHS thuộc trường hợp nghiêm trọng nên việc cho các bị cáo được hưởng án treo là không đúng.
[3] Với hành vi, như trên khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm quá nhấn mạnh đến các tình tiết giảm nhẹ, xử phạt các bị cáo mức án 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo là không tương xứng với vai trò cũng như tính chất, mức độ nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội và không đúng với các quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự và hướng dẫn tại khoản 1 Điều 3 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP.”