Miễn nhiệm, cách chức Trưởng Ban kiểm soát, Kiểm soát viên tại doanh nghiệp nhà nước được quy định như thế nào?
Miễn nhiệm, cách chức Trưởng Ban kiểm soát, Kiểm soát viên tại doanh nghiệp nhà nước được quy định như thế nào?
Luật sư cho tôi hỏi: Hiện tôi đang giữ chức vụ Kiểm soát viên tại một doanh nghiệp nhà nước và muốn tìm hiểu về các trường hợp Trưởng Ban kiểm soát, Kiểm soát viên có thể bị miễn nhiệm hoặc cách chức trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Vậy pháp luật hiện hành quy định như thế nào về căn cứ đối với các chức danh này tại doanh nghiệp nhà nước? Rất mong Luật sư tư vấn. Xin cảm ơn!
MỤC LỤC
1. Ban kiểm soát, Kiểm soát viên tại doanh nghiệp nhà nước được quy định như thế nào?
Trả lời:
1. Ban kiểm soát, Kiểm soát viên tại doanh nghiệp nhà nước được quy định như thế nào?
Ban kiểm soát là cơ quan thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát độc lập với hoạt động quản lý, điều hành. Nội dung về Ban kiểm soát, Kiểm soát viên được ghi nhận cụ thể tại Điều 103 Luật Doanh nghiệp năm 2020 như sau:
"Điều 103. Ban kiểm soát, Kiểm soát viên
1. Căn cứ quy mô của công ty, cơ quan đại diện chủ sở hữu quyết định thành lập Ban kiểm soát có từ 01 đến 05 Kiểm soát viên, trong đó có Trưởng Ban kiểm soát. Nhiệm kỳ Kiểm soát viên không quá 05 năm và có thể được bổ nhiệm lại nhưng không quá 02 nhiệm kỳ liên tục tại công ty đó. Trường hợp Ban kiểm soát chỉ có 01 Kiểm soát viên thì Kiểm soát viên đó đồng thời là Trưởng Ban kiểm soát và phải đáp ứng tiêu chuẩn của Trưởng Ban kiểm soát.
2. Một cá nhân có thể đồng thời được bổ nhiệm làm Trưởng Ban kiểm soát, Kiểm soát viên của không quá 04 doanh nghiệp nhà nước.
3. Trưởng Ban kiểm soát, Kiểm soát viên phải có tiêu chuẩn và điều kiện sau đây:
a) Có bằng tốt nghiệp đại học trở lên thuộc một trong các chuyên ngành về kinh tế, tài chính, kế toán, kiểm toán, luật, quản trị kinh doanh hoặc chuyên ngành phù hợp với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và có ít nhất 03 năm kinh nghiệm làm việc; Trưởng Ban kiểm soát phải có ít nhất 05 năm kinh nghiệm làm việc;
b) Không được là người quản lý công ty và người quản lý tại doanh nghiệp khác; không được là Kiểm soát viên của doanh nghiệp không phải là doanh nghiệp nhà nước; không phải là người lao động của công ty;
c) Không phải là người có quan hệ gia đình của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan đại diện chủ sở hữu của công ty; thành viên Hội đồng thành viên của công ty; Chủ tịch công ty; Giám đốc hoặc Tổng giám đốc; Phó giám đốc hoặc Phó Tổng giám đốc, Kế toán trưởng; Kiểm soát viên khác của công ty;
d) Tiêu chuẩn và điều kiện khác quy định tại Điều lệ công ty.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này."
Theo đó, căn cứ vào quy mô công ty, cơ quan đại diện chủ sở hữu quyết định thành lập Ban kiểm soát có từ 01 đến 05 Kiểm soát viên, trong đó có Trưởng Ban kiểm soát. Doanh nghiệp được phép điều chỉnh số lượng Kiểm soát viên tùy thuộc vào quy mô tài chính và tính chất phức tạp của từng doanh nghiệp nhà nước, giúp tối ưu hóa chi phí vận hành bộ máy. Trường hợp Ban kiểm soát chỉ có 01 Kiểm soát viên thì Kiểm soát viên đó đồng thời là Trưởng Ban kiểm soát và phải đáp ứng tiêu chuẩn của Trưởng Ban kiểm soát.
Về nhiệm kỳ công tác, nhiệm kỳ Kiểm soát viên không quá 05 năm và có thể được bổ nhiệm lại nhưng không quá 02 nhiệm kỳ liên tục tại công ty đó. Việc giới hạn tối đa 10 năm công tác liên tục tại một doanh nghiệp giúp đổi mới động lực kiểm soát, ngăn ngừa nguy cơ phát sinh lợi ích nhóm, bảo đảm Ban kiểm soát thực hiện chức năng một cách độc lập và khách quan nhất.
Đáng chú ý, pháp luật cho phép một cá nhân có thể đồng thời được bổ nhiệm làm Trưởng Ban kiểm soát, Kiểm soát viên của không quá 04 doanh nghiệp nhà nước, điều này là hoàn toàn hợp lý. Bởi lẽ, đối với những doanh nghiệp nhà nước có quy mô nhỏ, khối lượng công việc cần kiểm tra, giám sát không quá lớn, nếu giới hạn Kiểm soát viên chỉ được đảm nhiệm chức danh tại một doanh nghiệp có thể dẫn đến tình trạng lãng phí nguồn nhân lực do chưa sử dụng hết năng lực và thời gian làm việc của Kiểm soát viên, trong khi những doanh nghiệp khác vẫn có nhu cầu bố trí nhân sự thực hiện công tác kiểm soát. Đồng thời, việc giới hạn Trưởng Ban kiểm soát, Kiểm soát viên được bổ nhiệm tối đa tại 04 doanh nghiệp nhằm tránh tình trạng bị "quá tải", bảo đảm Trưởng Ban kiểm soát, Kiểm soát viên có đủ thời gian và năng lực để giám sát thực chất các hoạt động của từng doanh nghiệp.
Về tiêu chuẩn và điều kiện đối với Trưởng Ban kiểm soát và Kiểm soát viên, pháp luật đã đặt ra các yêu cầu cụ thể về trình độ chuyên môn, kinh nghiệm làm việc cũng như tính độc lập của Trưởng Ban kiểm soát, Kiểm soát viên như sau:
- Có bằng tốt nghiệp đại học trở lên thuộc một trong các chuyên ngành về kinh tế, tài chính, kế toán, kiểm toán, luật, quản trị kinh doanh hoặc chuyên ngành phù hợp với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và có ít nhất 03 năm kinh nghiệm làm việc; Trưởng Ban kiểm soát phải có ít nhất 05 năm kinh nghiệm làm việc. Yêu cầu này nhằm bảo đảm người thực hiện công tác kiểm soát có kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm cần thiết để đánh giá hoạt động quản lý, tài chính và việc tuân thủ pháp luật tại doanh nghiệp;
- Không được là người quản lý công ty và người quản lý tại doanh nghiệp khác; không được là Kiểm soát viên của doanh nghiệp không phải là doanh nghiệp nhà nước; không phải là người lao động của công ty. Các giới hạn này góp phần hạn chế xung đột giữa chức năng kiểm tra, giám sát với vai trò quản lý, điều hành hoặc quan hệ lao động tại doanh nghiệp được kiểm soát, qua đó hỗ trợ bảo đảm tính khách quan trong quá trình thực hiện nhiệm vụ;
- Không phải là người có quan hệ gia đình của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan đại diện chủ sở hữu của công ty; thành viên Hội đồng thành viên của công ty; Chủ tịch công ty; Giám đốc hoặc Tổng giám đốc; Phó giám đốc hoặc Phó Tổng giám đốc, Kế toán trưởng; Kiểm soát viên khác của công ty. Điều này hướng đến việc hạn chế ảnh hưởng từ quan hệ cá nhân đến hoạt động kiểm soát, đồng thời giảm nguy cơ phát sinh xung đột lợi ích trong quá trình giám sát doanh nghiệp;
- Ngoài các yêu cầu trên, Trưởng Ban kiểm soát, Kiểm soát viên phải đáp ứng tiêu chuẩn và điều kiện khác tại Điều lệ công ty. Điều này tạo cơ sở để doanh nghiệp xác định thêm những yêu cầu phù hợp với đặc điểm hoạt động và cơ cấu tổ chức của mình.
Tóm lại, việc tổ chức Ban kiểm soát, xác lập tiêu chuẩn đối với Kiểm soát viên và xây dựng cơ chế bảo đảm điều kiện hoạt động là những yếu tố quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả giám sát tại doanh nghiệp nhà nước. Các quy định này vừa tạo điều kiện sử dụng nhân lực kiểm soát phù hợp với quy mô doanh nghiệp, vừa hạn chế xung đột lợi ích và tăng cường tính khách quan trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Qua đó, hoạt động kiểm soát có cơ sở phát huy vai trò phát hiện rủi ro, bảo đảm tính minh bạch và góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
2. Miễn nhiệm, cách chức Trưởng Ban kiểm soát, Kiểm soát viên tại doanh nghiệp nhà nước được quy định như thế nào?
Trưởng Ban kiểm soát, Kiểm soát viên là chủ thể giữ vai trò quan trọng trong giám sát hoạt động quản lý, điều hành và việc quản lý, sử dụng vốn, tài sản tại doanh nghiệp nhà nước. Pháp luật đã ghi nhận những trường hợp miễn nhiệm, cách chức Trưởng Ban kiểm soát, Kiểm soát viên khi họ không còn đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ được giao. Nội dung này được ghi nhận cụ thể tại Điều 108 Luật Doanh nghiệp năm 2020 như sau:
"Điều 108. Miễn nhiệm, cách chức Trưởng Ban kiểm soát, Kiểm soát viên
1. Trưởng Ban kiểm soát, Kiểm soát viên bị miễn nhiệm trong trường hợp sau đây:
a) Không còn đủ tiêu chuẩn và điều kiện theo quy định tại Điều 103 của Luật này;
b) Có đơn xin từ chức và được cơ quan đại diện chủ sở hữu chấp thuận;
c) Được cơ quan đại diện chủ sở hữu hoặc cơ quan có thẩm quyền khác điều động, phân công thực hiện nhiệm vụ khác;
d) Trường hợp khác theo quy định tại Điều lệ công ty.
2. Trưởng Ban kiểm soát, Kiểm soát viên bị cách chức trong trường hợp sau đây:
a) Không thực hiện nghĩa vụ, nhiệm vụ, công việc được phân công trong 03 tháng liên tục, trừ trường hợp bất khả kháng;
b) Không hoàn thành nghĩa vụ, nhiệm vụ, công việc được phân công trong 01 năm;
c) Vi phạm nhiều lần, vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của Trưởng Ban kiểm soát, Kiểm soát viên quy định tại Luật này và Điều lệ công ty;
d) Trường hợp khác theo quy định tại Điều lệ công ty."
Dẫn chiếu đến Điều 103 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định như sau:
"Điều 103. Ban kiểm soát, Kiểm soát viên
1. Căn cứ quy mô của công ty, cơ quan đại diện chủ sở hữu quyết định thành lập Ban kiểm soát có từ 01 đến 05 Kiểm soát viên, trong đó có Trưởng Ban kiểm soát. Nhiệm kỳ Kiểm soát viên không quá 05 năm và có thể được bổ nhiệm lại nhưng không quá 02 nhiệm kỳ liên tục tại công ty đó. Trường hợp Ban kiểm soát chỉ có 01 Kiểm soát viên thì Kiểm soát viên đó đồng thời là Trưởng Ban kiểm soát và phải đáp ứng tiêu chuẩn của Trưởng Ban kiểm soát.
2. Một cá nhân có thể đồng thời được bổ nhiệm làm Trưởng Ban kiểm soát, Kiểm soát viên của không quá 04 doanh nghiệp nhà nước.
3. Trưởng Ban kiểm soát, Kiểm soát viên phải có tiêu chuẩn và điều kiện sau đây:
a) Có bằng tốt nghiệp đại học trở lên thuộc một trong các chuyên ngành về kinh tế, tài chính, kế toán, kiểm toán, luật, quản trị kinh doanh hoặc chuyên ngành phù hợp với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và có ít nhất 03 năm kinh nghiệm làm việc; Trưởng Ban kiểm soát phải có ít nhất 05 năm kinh nghiệm làm việc;
b) Không được là người quản lý công ty và người quản lý tại doanh nghiệp khác; không được là Kiểm soát viên của doanh nghiệp không phải là doanh nghiệp nhà nước; không phải là người lao động của công ty;
c) Không phải là người có quan hệ gia đình của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan đại diện chủ sở hữu của công ty; thành viên Hội đồng thành viên của công ty; Chủ tịch công ty; Giám đốc hoặc Tổng giám đốc; Phó giám đốc hoặc Phó Tổng giám đốc, Kế toán trưởng; Kiểm soát viên khác của công ty;
d) Tiêu chuẩn và điều kiện khác quy định tại Điều lệ công ty.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này."
Theo đó, Trưởng Ban kiểm soát, Kiểm soát viên bị miễn nhiệm trong những trường hợp sau:
- Không còn đủ tiêu chuẩn và điều kiện của Trưởng Ban kiểm soát, Kiểm soát viên theo Luật Doanh nghiệp năm 2020;
- Có đơn xin từ chức và được cơ quan đại diện chủ sở hữu chấp thuận;
- Được cơ quan đại diện chủ sở hữu hoặc cơ quan có thẩm quyền khác điều động, phân công thực hiện nhiệm vụ khác;
- Trường hợp khác theo quy định tại Điều lệ công ty.
Có thể thấy, các trường hợp miễn nhiệm Trưởng Ban kiểm soát, Kiểm soát viên là đều là việc cho thôi giữ chức vụ trước thời hạn khi những nhân sự này không còn đáp ứng đủ tiêu chuẩn, điều kiện, theo nguyện vọng cá nhân hoặc theo yêu cầu luân chuyển công tác của Nhà nước mà không mang tính chất chế tài kỷ luật. Điều này sẽ tạo ra sự chủ động trong công tác quản trị nguồn nhân lực, giúp cơ quan đại diện chủ sở hữu linh hoạt điều động, thay thế nhân sự kiểm soát theo chiến lược quy hoạch nhân sự hoặc khi điều kiện thực tế của cá nhân Trưởng Ban kiểm soát, Kiểm soát viên có sự thay đổi.
Bên cạnh đó, khi không hoàn thành nhiệm vụ hoặc có hành vi vi phạm, Trưởng Ban kiểm soát, Kiểm soát viên có thể chịu hình thức kỷ luật cách chức. Các trường hợp cách chức Trưởng Ban kiểm soát, Kiểm soát viên được liệt kê cụ thể sau đây:
- Không thực hiện nghĩa vụ, nhiệm vụ, công việc được phân công trong 03 tháng liên tục, trừ trường hợp bất khả kháng. Mỗi doanh nghiệp chỉ có từ 01 đến 05 Kiểm soát viên, việc một Kiểm soát viên không thực hiện nghĩa vụ, nhiệm vụ, công việc được phân công liên tục trong 03 tháng có thể gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động kiểm soát, làm gián đoạn quá trình phát hiện và xử lý sai phạm tại doanh nghiệp. Tuy nhiên, pháp luật loại trừ trường hợp bất khả kháng nhằm bảo đảm việc xem xét cách chức có tính đến những trở ngại khách quan khiến người giữ chức vụ không thể thực hiện nhiệm vụ, tránh cứng nhắc trong công tác quản lý nhân sự;
- Không hoàn thành nghĩa vụ, nhiệm vụ, công việc được phân công trong 01 năm. Việc xác định thời hạn một năm tạo cơ sở xem xét mức độ hoàn thành nhiệm vụ trong một khoảng thời gian đủ để đánh giá kết quả công tác. Điều này góp phần nâng cao trách nhiệm của Trưởng Ban kiểm soát, Kiểm soát viên đối với chất lượng và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ, hạn chế tình trạng công việc kéo dài hoặc không đạt yêu cầu làm ảnh hưởng đến hoạt động giám sát doanh nghiệp;
- Vi phạm nhiều lần, vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của Trưởng Ban kiểm soát, Kiểm soát viên theo Luật Doanh nghiệp năm 2020 và Điều lệ công ty. Những hành vi vi phạm quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của Trưởng Ban kiểm soát, Kiểm soát viên có thể làm ảnh hưởng đến tính độc lập, khách quan và hiệu quả trong hoạt động kiểm soát, đồng thời tác động đến việc thực hiện chức năng giám sát quản lý, sử dụng vốn và tài sản của doanh nghiệp. Việc xác định đây là căn cứ cách chức góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật, Điều lệ công ty và trách nhiệm của người giữ chức vụ, qua đó, bảo đảm hoạt động kiểm soát được thực hiện đúng chức năng;
- Ngoài những căn cứ được liệt kê ở trên, doanh nghiệp có thể áp dụng các trường hợp cách chức Trưởng Ban kiểm soát, Kiểm soát viên khác tại Điều lệ công ty. Điều này sẽ tạo điều kiện để doanh nghiệp cụ thể hóa căn cứ xử lý phù hợp với cơ cấu tổ chức và yêu cầu quản trị của mình. Tuy nhiên, các trường hợp bổ sung trong Điều lệ vẫn phải phù hợp với Luật Doanh nghiệp và các quy định pháp luật có liên quan, qua đó bảo đảm tính thống nhất của hệ thống căn cứ pháp lý áp dụng đối với Trưởng Ban kiểm soát, Kiểm soát viên.
Như vậy, pháp luật xác định các căn cứ miễn nhiệm, cách chức Trưởng Ban kiểm soát, Kiểm soát viên. Việc xác định cụ thể các căn cứ này tạo cơ sở để xem xét, xử lý nhân sự phù hợp với từng tình huống, đồng thời nâng cao trách nhiệm của người thực hiện chức năng kiểm soát. Qua đó, góp phần duy trì hiệu quả giám sát, bảo đảm tính tuân thủ trong hoạt động quản lý và sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại doanh nghiệp.
Trân trọng./.