Công bố thông tin bất thường của doanh nghiệp nhà nước được quy định như thế nào?

Công bố thông tin bất thường của doanh nghiệp nhà nước được quy định như thế nào?

Luật sư cho tôi hỏi: Tôi là người dân quan tâm đến tình hình hoạt động của một doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ vốn. Gần đây, tôi được biết doanh nghiệp có một số thay đổi quan trọng trong hoạt động quản lý và kinh doanh nhưng chưa rõ những sự kiện nào phải công bố thông tin bất thường, thời hạn công bố là bao lâu và việc công khai thông tin được thực hiện bằng hình thức nào. Vậy công bố thông tin bất thường của doanh nghiệp nhà nước được pháp luật quy định như thế nào? Rất mong Luật sư tư vấn. Xin cảm ơn!

MỤC LỤC

1. Pháp luật quy định nguyên tắc công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước như thế nào?

2. Công bố thông tin bất thường của doanh nghiệp nhà nước được quy định như thế nào?

 

Trả lời:

1. Pháp luật quy định nguyên tắc công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước như thế nào?

Nhằm bảo đảm hoạt động công bố thông tin tại doanh nghiệp nhà nước được thực hiện thống nhất, minh bạch và có cơ sở để kiểm tra, giám sát, pháp luật đã xác định các nguyên tắc thực hiện công bố thông tin tại Điều 20 Nghị định số 47/2021/NĐ-CP ngày 01/04/2021 của Chính phủ về quy định chi tiết một số điều của Luật Doanh nghiệp (sau đây gọi tắt là "Nghị định số 47/2021/NĐ-CP"), cụ thể như sau:

"Điều 20. Nguyên tắc thực hiện công bố thông tin.

1. Việc công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước phải đầy đủ, chính xác và kịp thời theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm yêu cầu công khai, minh bạch về hoạt động của doanh nghiệp; bảo đảm tính hiệu quả, hiệu lực trong hoạt động quản lý và giám sát của cơ quan nhà nước và xã hội.

2. Việc công bố thông tin do người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp hoặc người được ủy quyền công bố thông tin thực hiện. Trường hợp thực hiện công bố thông tin thông qua người được ủy quyền, doanh nghiệp phải gửi Giấy ủy quyền theo mẫu quy định tại Biểu số 1 Phụ lục II kèm theo Nghị định này đến cơ quan đại diện chủ sở hữu và Bộ Kế hoạch và Đầu tư; đồng thời công khai nội dung này trên trang thông tin điện tử của doanh nghiệp.

Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp hoặc người được ủy quyền công bố thông tin chịu trách nhiệm về tính đầy đủ, kịp thời, trung thực và chính xác của thông tin được công bố.

3. Báo cáo công bố thông tin được xây dựng theo đúng mẫu quy định tại Phụ lục II kèm theo Nghị định này và được chuyển sang dữ liệu dưới dạng điện tử (định dạng file là PDF, Word, Exel). Tên văn bản điện tử phải được đặt tương ứng với tên loại báo cáo nêu tại Phụ lục II kèm theo Nghị định này. Ngôn ngữ thực hiện công bố thông tin là tiếng Việt.

4. Báo cáo công bố thông tin qua mạng điện tử của doanh nghiệp có giá trị pháp lý như bản giấy, là cơ sở đối chiếu, so sánh, xác thực thông tin phục vụ cho công tác thu thập, tổng hợp thông tin; kiểm tra, giám sát theo quy định của pháp luật.

5. Báo cáo công bố thông tin phải được duy trì trên trang thông tin điện tử của doanh nghiệp, cổng hoặc trang thông tin điện tử của cơ quan đại diện chủ sở hữu và Cổng thông tin doanh nghiệp tối thiểu 05 năm. Doanh nghiệp công bố thông tin thực hiện việc bảo quản, lưu trữ thông tin đã báo cáo, công bố theo quy định của pháp luật."

* Lưu ý: Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng với Bộ Tài chính được hợp nhất thành Bộ Tài chính (căn cứ mục 2.3 Phần II Kết luận số 121-KL/TW ngày 24/01/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XIII về tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XII một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và khoản 6 Điều 1 Nghị quyết số 176/2025/QH15 ngày 18/02/2025 của Quốc hội về cơ cấu tổ chức của Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khoá XV).

Theo đó, việc công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước phải đáp ứng ba yêu cầu bắt buộc:

- Đầy đủ: Không che giấu, bỏ sót các thông tin định kỳ hoặc sự kiện bất thường thuộc diện phải công bố theo luật định;

- Chính xác: Thông tin dữ liệu về tài chính và tình hình hoạt động, sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải được cung cấp trung thực nhất và không sai lệch với thực tế;

- Kịp thời: Bảo đảm thông tin được công bố đúng thời hạn luật định theo từng trường hợp cụ thể.

Tất cả những yếu tố trên nhằm bảo đảm yêu cầu công khai, minh bạch về hoạt động của doanh nghiệp. Đồng thời, pháp luật bảo đảm, nâng cao tính hiệu quả, hiệu lực trong hoạt động quản lý và giám sát của cơ quan nhà nước và xã hội.

Về chủ thể thực hiện công bố thông tin, việc công bố thông tin do người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp hoặc người được ủy quyền công bố thông tin thực hiện. Trường hợp thực hiện công bố thông tin thông qua người được ủy quyền, doanh nghiệp phải gửi Giấy ủy quyền theo mẫu Giấy ủy quyền thực hiện công bố thông tin tại Biểu số 1 Phụ lục II kèm theo Nghị định số 47/2021/NĐ-CP đến cơ quan đại diện chủ sở hữu và Bộ Tài chính, đồng thời công khai nội dung này trên trang thông tin điện tử của doanh nghiệp. Việc xác định cụ thể chủ thể thực hiện và yêu cầu công khai thông tin ủy quyền giúp làm rõ tư cách của người được ủy quyền, tạo cơ sở để kiểm tra thẩm quyền công bố thông tin và bảo đảm tính minh bạch trong quá trình thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp.

Về trách nhiệm đối với thông tin được công bố, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp hoặc người được ủy quyền công bố thông tin chịu trách nhiệm về tính đầy đủ, kịp thời, trung thực và chính xác của thông tin được công bố. Trách nhiệm này đặt ra yêu cầu đối với người thực hiện trong việc kiểm tra, bảo đảm chất lượng thông tin trước khi công bố, hạn chế tình trạng cung cấp thông tin thiếu sót, sai lệch hoặc không phản ánh đúng tình hình hoạt động của doanh nghiệp. Qua đó, góp phần nâng cao trách nhiệm của cá nhân được giao thực hiện nhiệm vụ và củng cố mức độ tin cậy của thông tin phục vụ công tác quản lý, giám sát.

Về hình thức của báo cáo công bố thông tin, báo cáo công bố thông tin được xây dựng theo đúng mẫu báo cáo tại Phụ lục II kèm theo Nghị định số 47/2021/NĐ-CP và được chuyển sang dữ liệu dưới dạng điện tử (định dạng file là PDF, Word, Excel). Tên văn bản điện tử phải được đặt tương ứng với tên loại báo cáo nêu tại Phụ lục II kèm theo Nghị định số 47/2021/NĐ-CP. Ngôn ngữ thực hiện công bố thông tin là tiếng Việt. Việc thống nhất cấu trúc báo cáo và định dạng file điện tử sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc tích hợp, đồng bộ tự động vào trang thông tin điện tử của doanh nghiệp. Ngoài ra, việc sử dụng tiếng Việt khi thực hiện công bố thông tin có thể bảo đảm tính phổ cập, giúp cơ quan nhà nước và công chúng trong nước dễ dàng tiếp cận và kiểm tra thông tin.

Về giá trị pháp lý của báo cáo công bố thông tin, báo cáo công bố thông tin qua mạng điện tử của doanh nghiệp có giá trị pháp lý như bản giấy. Đây là cơ sở đối chiếu, so sánh, xác thực thông tin phục vụ cho công tác thu thập, tổng hợp thông tin và kiểm tra, giám sát theo luật định. Việc công nhận giá trị pháp lý của bản báo cáo điện tử tương đương với bản giấy sẽ giúp cắt giảm chi phí thực hiện báo cáo, rút ngắn thời gian gửi và tiếp nhận báo cáo. Đồng thời, doanh nghiệp sẽ nâng cao trách nhiệm trong việc thực hiện và gửi báo cáo công bố thông tin đến trang thông tin điện tử của doanh nghiệp.

Về thời hạn công khai và lưu giữ thông tin, báo cáo công bố thông tin phải được duy trì trên trang thông tin điện tử của doanh nghiệp, cổng hoặc trang thông tin điện tử của cơ quan đại diện chủ sở hữu và Cổng thông tin doanh nghiệp tối thiểu 05 năm. Trong thời hạn 05 năm này, cơ quan chức năng và công chúng có thể tra cứu, đánh giá xu hướng tài chính và hoạt động của doanh nghiệp qua nhiều kỳ tài chính. Ngoài ra, doanh nghiệp công bố thông tin có nghĩa vụ bảo quản, lưu trữ thông tin đã báo cáo, công bố theo luật định, qua đó, góp phần bảo đảm khả năng truy xuất hồ sơ khi phát sinh yêu cầu xác minh hoặc vấn đề pháp lý liên quan.

Như vậy, pháp luật đã thiết lập khuôn khổ chung cho hoạt động công bố thông tin tại doanh nghiệp nhà nước, từ yêu cầu về chất lượng thông tin, chủ thể thực hiện và trách nhiệm liên quan đến hình thức báo cáo, giá trị pháp lý của dữ liệu điện tử và thời hạn lưu giữ. Việc tuân thủ đồng bộ các yêu cầu này góp phần tăng cường tính công khai, minh bạch, tạo cơ sở cho cơ quan đại diện chủ sở hữu và xã hội thực hiện giám sát, đồng thời nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc cung cấp và lưu giữ thông tin.

2. Công bố thông tin bất thường của doanh nghiệp nhà nước được quy định như thế nào?

Bên cạnh việc thực hiện công bố thông tin định kỳ, doanh nghiệp nhà nước còn phải kịp thời công khai những thông tin phát sinh có ảnh hưởng đến tình hình hoạt động, tổ chức quản lý và hoạt động đầu tư của doanh nghiệp. Nội dung này được ghi nhận tại Điều 110 Luật Doanh nghiệp năm 2020 được hướng dẫn bởi Điều 24 Nghị định số 47/2021/NĐ-CP, cụ thể như sau:

"Điều 110. Công bố thông tin bất thường

1. Công ty phải công bố trên trang thông tin điện tử, ấn phẩm (nếu có) và niêm yết công khai tại trụ sở chính, địa điểm kinh doanh của công ty về các thông tin bất thường trong thời hạn 36 giờ kể từ khi xảy ra một trong các sự kiện sau đây:

a) Tài khoản của công ty bị phong tỏa hoặc được phép hoạt động trở lại sau khi bị phong tỏa;

b) Tạm ngừng một phần hoặc toàn bộ hoạt động kinh doanh; bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, giấy phép thành lập, giấy phép thành lập và hoạt động, giấy phép hoạt động hoặc giấy phép khác liên quan đến hoạt động của công ty;

c) Sửa đổi, bổ sung nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, giấy phép thành lập, giấy phép thành lập và hoạt động, giấy phép hoạt động hoặc giấy phép khác liên quan đến hoạt động của công ty;

d) Thay đổi thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Giám đốc, Phó giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc, Kế toán trưởng, Trưởng phòng tài chính kế toán, Trưởng Ban kiểm soát hoặc Kiểm soát viên;

đ) Có quyết định kỷ luật, khởi tố, có bản án, quyết định của Tòa án đối với người quản lý doanh nghiệp;

e) Có kết luận của cơ quan thanh tra hoặc của cơ quan quản lý thuế về việc vi phạm pháp luật của doanh nghiệp;

g) Có quyết định thay đổi tổ chức kiểm toán độc lập hoặc bị từ chối kiểm toán báo cáo tài chính;

h) Có quyết định thành lập, giải thể, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi công ty con, chi nhánh, văn phòng đại diện; quyết định đầu tư, giảm vốn hoặc thoái vốn đầu tư tại các công ty khác.

2. Chính phủ quy định chi tiết Điều này."

Và

"Điều 24. Các thông tin công bố bất thường.

Doanh nghiệp phải công bố trên trang thông tin điện tử, ấn phẩm (nếu có) và niêm yết công khai tại trụ sở chính, địa điểm kinh doanh của công ty; Cổng thông tin doanh nghiệp và gửi cơ quan đại diện chủ sở hữu về các thông tin bất thường trong thời hạn 36 giờ kể từ khi xảy ra một trong các sự kiện quy định tại khoản 1 Điều 110 Luật Doanh nghiệp."

Theo đó, doanh nghiệp nhà nước phải công bố trên trang thông tin điện tử, ấn phẩm (nếu có) và niêm yết công khai tại trụ sở chính, địa điểm kinh doanh của công ty về các thông tin bất thường trong thời hạn 36 giờ kể từ khi xảy ra một trong các sự kiện sau đây:

- Tài khoản của công ty bị phong tỏa hoặc được phép hoạt động trở lại sau khi bị phong tỏa: Những tình trạng này của tài khoản công ty có thể ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thực hiện các giao dịch thanh toán, thực hiện nghĩa vụ tài chính và duy trì hoạt động kinh doanh. Việc công khai thông tin về cả thời điểm bị phong tỏa và thời điểm được hoạt động trở lại hỗ trợ giám sát những biến động có thể ảnh hưởng đến việc quản lý và sử dụng vốn của doanh nghiệp và giúp các chủ thể quan tâm nhận biết kịp thời tình trạng hoạt động của tài khoản doanh nghiệp;

- Tạm ngừng một phần hoặc toàn bộ hoạt động kinh doanh; bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, giấy phép thành lập, giấy phép thành lập và hoạt động, giấy phép hoạt động hoặc giấy phép khác liên quan đến hoạt động của công ty: Việc tạm ngừng hoạt động có thể tác động đến doanh thu, việc thực hiện hợp đồng và quyền lợi của người lao động, đối tác. Trong khi đó, việc bị thu hồi giấy chứng nhận hoặc giấy phép có thể làm phát sinh những hạn chế nghiêm trọng đối với hoạt động kinh doanh. Thông qua việc công khai các sự kiện này, cơ quan đại diện chủ sở hữu và công chúng có thêm cơ sở để theo dõi tình hình doanh nghiệp, đánh giá rủi ro và giám sát việc quản lý vốn Nhà nước;

- Sửa đổi, bổ sung nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, giấy phép thành lập, giấy phép thành lập và hoạt động, giấy phép hoạt động hoặc giấy phép khác liên quan đến hoạt động của công ty: Việc công bố những thông tin trên sẽ giúp cơ quan đại diện chủ sở hữu và các chủ thể khác cập nhật những thay đổi về tình trạng pháp lý của doanh nghiệp. Đây là cơ sở để các chủ thể có liên quan nhận biết chính xác thông tin đăng ký và phạm vi hoạt động đã được điều chỉnh, qua đó hạn chế sự thiếu thống nhất giữa thông tin công khai với tình trạng pháp lý thực tế;

- Thay đổi thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Giám đốc, Phó giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc, Kế toán trưởng, Trưởng phòng tài chính kế toán, Trưởng Ban kiểm soát hoặc Kiểm soát viên: Những chức danh này có vai trò trong việc quản lý, điều hành, tổ chức thực hiện và giám sát hoạt động của doanh nghiệp. Việc công khai thông tin giúp các chủ thể liên quan nhận biết kịp thời sự thay đổi nhân sự, xác định những người đảm nhiệm các vị trí quản lý, điều hành và kiểm soát, đồng thời tạo điều kiện theo dõi tính liên tục trong hoạt động quản trị và trách nhiệm của người quản lý đối với vốn, tài sản Nhà nước;

- Có quyết định kỷ luật, khởi tố, có bản án, quyết định của Tòa án đối với người quản lý doanh nghiệp: Đây là sự kiện pháp lý có thể ảnh hưởng đến hoạt động quản trị và uy tín của doanh nghiệp. Việc công bố những thông tin về quyết định kỷ luật, khởi tố, có bản án, quyết định của Tòa án đối với người quản lý doanh nghiệp giúp cơ quan đại diện chủ sở hữu và công chúng có cơ sở theo dõi và xem xét tác động của sự kiện này đối với hoạt động điều hành, quản lý doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc công bố phải phản ánh đúng tính chất và giai đoạn pháp lý của từng sự kiện từ kỷ luật, khởi tố đến có bản án, quyết định của Tòa án;

- Có kết luận của cơ quan thanh tra hoặc của cơ quan quản lý thuế về việc vi phạm pháp luật của doanh nghiệp: Việc công khai kết quả thanh tra, kiểm tra về việc vi phạm pháp luật của doanh nghiệp giúp các chủ thể có liên quan có thể nhận diện những vấn đề trong việc chấp hành pháp luật, quản lý tài chính và tổ chức hoạt động của doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp nhà nước, việc công khai này còn góp phần tăng cường giám sát việc quản lý, sử dụng vốn và tài sản Nhà nước, đồng thời tạo cơ sở để theo dõi việc khắc phục vi phạm và hạn chế nguy cơ tái diễn những sai phạm tương tự;

- Có quyết định thay đổi tổ chức kiểm toán độc lập hoặc bị từ chối kiểm toán báo cáo tài chính: Việc công bố thông tin giúp làm rõ những thay đổi liên quan đến hoạt động kiểm toán và khả năng kiểm toán báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Kiểm toán độc lập có vai trò cung cấp ý kiến về báo cáo tài chính, góp phần nâng cao độ tin cậy của thông tin phục vụ quản lý và giám sát. Vì vậy, việc công khai những sự kiện này giúp các chủ thể quan tâm nhận biết kịp thời các vấn đề có thể ảnh hưởng đến quá trình kiểm chứng thông tin tài chính doanh nghiệp;

- Có quyết định thành lập, giải thể, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi công ty con, chi nhánh, văn phòng đại diện và quyết định đầu tư, giảm vốn hoặc thoái vốn đầu tư tại các công ty khác: Các quyết định này có thể làm thay đổi cơ cấu vốn, phạm vi kinh doanh, mức độ phân bổ nguồn lực và rủi ro tài chính của doanh nghiệp. Việc công khai thông tin tạo điều kiện để cơ quan đại diện chủ sở hữu và công chúng theo dõi các quyết định có ảnh hưởng đến nguồn vốn đầu tư, đánh giá việc phân bổ và sử dụng vốn, qua đó góp phần phòng ngừa nguy cơ thất thoát tài sản Nhà nước.

Trong thời hạn 36 giờ kể từ khi xảy ra một trong các sự kiện nêu trên, doanh nghiệp phải thực hiện công bố theo Điều 24 Nghị định số 47/2021/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết Điều 110 Luật Doanh nghiệp năm 2020. Các thông tin bất thường của doanh nghiệp được công bố tại trang thông tin điện tử, ấn phẩm (nếu có) và niêm yết công khai tại trụ sở chính, địa điểm kinh doanh của công ty, đồng thời đăng tải tại Cổng thông tin doanh nghiệp và gửi cơ quan đại diện chủ sở hữu. Việc thực hiện công bố thông tin này không chỉ phục vụ quyền tiếp cận thông tin của công chúng mà còn hỗ trợ giám sát việc quản lý và sử dụng vốn, tài sản nhà nước. Khi các sự kiện có khả năng ảnh hưởng đáng kể đến tình hình tài chính, hoạt động hoặc cơ cấu tổ chức được công khai kịp thời, cơ quan đại diện chủ sở hữu có thêm căn cứ để đánh giá rủi ro và xem xét biện pháp xử lý cần thiết.

Như vậy, cơ chế công bố thông tin bất thường đặt ra yêu cầu doanh nghiệp nhà nước phải chủ động minh bạch hóa những biến động quan trọng trong quá trình hoạt động, từ tình trạng pháp lý, nhân sự quản lý đến các quyết định đầu tư và tổ chức lại doanh nghiệp. Việc ấn định thời hạn công bố 36 giờ kể từ khi xảy ra các sự kiện bất thường, kết hợp với yêu cầu đăng tải trên Cổng thông tin doanh nghiệp và gửi thông tin đến cơ quan đại diện chủ sở hữu, tạo điều kiện để thông tin được tiếp cận kịp thời và phục vụ công tác giám sát. Qua đó, cơ chế này góp phần tăng cường khả năng phát hiện, kiểm soát rủi ro và hạn chế nguy cơ thất thoát, lãng phí vốn, tài sản nhà nước trong quá trình doanh nghiệp thực hiện hoạt động kinh doanh.

Trân trọng./.