Người được ủy quyền công bố thông tin là ai? Công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước được quy định như thế nào?

Người được ủy quyền công bố thông tin là ai? Công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước được quy định như thế nào?

Luật sư cho tôi hỏi: Trong quá trình tìm hiểu về tính công khai, minh bạch trong hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, tôi muốn biết ai được quyền thay mặt doanh nghiệp thực hiện công bố thông tin và việc này phải tuân thủ những yêu cầu nào về nguyên tắc, hình thức và phương thức thực hiện. Vậy pháp luật xác định người được ủy quyền công bố thông tin như thế nào và quy định ra sao về việc công bố thông tin tại doanh nghiệp nhà nước? Rất mong Luật sư giải đáp. Xin cảm ơn!

MỤC LỤC

1. Người được ủy quyền công bố thông tin là ai?

2. Pháp luật quy định nguyên tắc công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước như thế nào?

3. Hình thức và phương tiện công bố thông tin được quy định như thế nào?

4. Doanh nghiệp nhà nước sử dụng tài khoản công bố thông tin của doanh nghiệp trên Cổng thông tin doanh nghiệp như thế nào?

 

Trả lời:

1. Người được ủy quyền công bố thông tin là ai?

Để xác định rõ chủ thể thực hiện hoạt động công bố thông tin của doanh nghiệp và thẩm quyền của cá nhân được giao nhiệm vụ này, pháp luật đã làm rõ khái niệm người được ủy quyền công bố thông tin tại khoản 6 Điều 2 Nghị định số 47/2021/NĐ-CP ngày 01/04/2021 của Chính phủ về quy định chi tiết một số điều của Luật Doanh nghiệp (sau đây gọi tắt là "Nghị định số 47/2021/NĐ-CP"), cụ thể như sau:

"Điều 2. Giải thích từ ngữ.

Trong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

…

6. Người được ủy quyền công bố thông tin là cá nhân được doanh nghiệp ủy quyền thực hiện công bố thông tin; có thẩm quyền ký, đóng dấu theo quy định nội bộ của doanh nghiệp."

Theo đó, người được ủy quyền công bố thông tin là cá nhân được doanh nghiệp ủy quyền thực hiện công bố thông tin. Cá nhân này có thẩm quyền ký, đóng dấu theo quy định nội bộ của doanh nghiệp. Việc xác định cụ thể tư cách của người được ủy quyền công bố thông tin giúp làm rõ chủ thể thực hiện nhiệm vụ, tạo cơ sở để phân định thẩm quyền trong hoạt động công bố thông tin của doanh nghiệp. Đồng thời, yêu cầu tuân thủ quy định nội bộ về ký và đóng dấu góp phần bảo đảm tính thống nhất, xác thực của thông tin được công bố, hạn chế tình trạng cá nhân thực hiện công việc vượt quá thẩm quyền được giao. Qua đó, hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ công bố thông tin một cách rõ ràng và có căn cứ.

2. Pháp luật quy định nguyên tắc công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước như thế nào?

Nhằm bảo đảm hoạt động công bố thông tin tại doanh nghiệp nhà nước được thực hiện thống nhất, minh bạch và có cơ sở để kiểm tra, giám sát, pháp luật đã xác định các nguyên tắc thực hiện công bố thông tin tại Điều 20 Nghị định số 47/2021/NĐ-CP, cụ thể như sau:

"Điều 20. Nguyên tắc thực hiện công bố thông tin.

1. Việc công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước phải đầy đủ, chính xác và kịp thời theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm yêu cầu công khai, minh bạch về hoạt động của doanh nghiệp; bảo đảm tính hiệu quả, hiệu lực trong hoạt động quản lý và giám sát của cơ quan nhà nước và xã hội.

2. Việc công bố thông tin do người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp hoặc người được ủy quyền công bố thông tin thực hiện. Trường hợp thực hiện công bố thông tin thông qua người được ủy quyền, doanh nghiệp phải gửi Giấy ủy quyền theo mẫu quy định tại Biểu số 1 Phụ lục II kèm theo Nghị định này đến cơ quan đại diện chủ sở hữu và Bộ Kế hoạch và Đầu tư; đồng thời công khai nội dung này trên trang thông tin điện tử của doanh nghiệp.

Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp hoặc người được ủy quyền công bố thông tin chịu trách nhiệm về tính đầy đủ, kịp thời, trung thực và chính xác của thông tin được công bố.

3. Báo cáo công bố thông tin được xây dựng theo đúng mẫu quy định tại Phụ lục II kèm theo Nghị định này và được chuyển sang dữ liệu dưới dạng điện tử (định dạng file là PDF, Word, Exel). Tên văn bản điện tử phải được đặt tương ứng với tên loại báo cáo nêu tại Phụ lục II kèm theo Nghị định này. Ngôn ngữ thực hiện công bố thông tin là tiếng Việt.

4. Báo cáo công bố thông tin qua mạng điện tử của doanh nghiệp có giá trị pháp lý như bản giấy, là cơ sở đối chiếu, so sánh, xác thực thông tin phục vụ cho công tác thu thập, tổng hợp thông tin; kiểm tra, giám sát theo quy định của pháp luật.

5. Báo cáo công bố thông tin phải được duy trì trên trang thông tin điện tử của doanh nghiệp, cổng hoặc trang thông tin điện tử của cơ quan đại diện chủ sở hữu và Cổng thông tin doanh nghiệp tối thiểu 05 năm. Doanh nghiệp công bố thông tin thực hiện việc bảo quản, lưu trữ thông tin đã báo cáo, công bố theo quy định của pháp luật."

* Lưu ý: Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng với Bộ Tài chính được hợp nhất thành Bộ Tài chính (căn cứ mục 2.3 Phần II Kết luận số 121-KL/TW ngày 24/01/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XIII về tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XII một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và khoản 6 Điều 1 Nghị quyết số 176/2025/QH15 ngày 18/02/2025 của Quốc hội về cơ cấu tổ chức của Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khoá XV).

Theo đó, việc công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước phải đáp ứng ba yêu cầu bắt buộc:

- Đầy đủ: Không che giấu, bỏ sót các thông tin định kỳ hoặc sự kiện bất thường thuộc diện phải công bố theo luật định;

- Chính xác: Thông tin dữ liệu về tài chính và tình hình hoạt động, sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải được cung cấp trung thực nhất và không sai lệch với thực tế;

- Kịp thời: Bảo đảm thông tin được công bố đúng thời hạn luật định theo từng trường hợp cụ thể.

Tất cả những yếu tố trên nhằm bảo đảm yêu cầu công khai, minh bạch về hoạt động của doanh nghiệp. Đồng thời, pháp luật bảo đảm, nâng cao tính hiệu quả, hiệu lực trong hoạt động quản lý và giám sát của cơ quan nhà nước và xã hội.

Về chủ thể thực hiện công bố thông tin, việc công bố thông tin do người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp hoặc người được ủy quyền công bố thông tin thực hiện. Trường hợp thực hiện công bố thông tin thông qua người được ủy quyền, doanh nghiệp phải gửi Giấy ủy quyền theo mẫu Giấy ủy quyền thực hiện công bố thông tin tại Biểu số 1 Phụ lục II kèm theo Nghị định số 47/2021/NĐ-CP đến cơ quan đại diện chủ sở hữu và Bộ Tài chính, đồng thời công khai nội dung này trên trang thông tin điện tử của doanh nghiệp. Việc xác định cụ thể chủ thể thực hiện và yêu cầu công khai thông tin ủy quyền giúp làm rõ tư cách của người được ủy quyền, tạo cơ sở để kiểm tra thẩm quyền công bố thông tin và bảo đảm tính minh bạch trong quá trình thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp.

Về trách nhiệm đối với thông tin được công bố, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp hoặc người được ủy quyền công bố thông tin chịu trách nhiệm về tính đầy đủ, kịp thời, trung thực và chính xác của thông tin được công bố. Trách nhiệm này đặt ra yêu cầu đối với người thực hiện trong việc kiểm tra, bảo đảm chất lượng thông tin trước khi công bố, hạn chế tình trạng cung cấp thông tin thiếu sót, sai lệch hoặc không phản ánh đúng tình hình hoạt động của doanh nghiệp. Qua đó, góp phần nâng cao trách nhiệm của cá nhân được giao thực hiện nhiệm vụ và củng cố mức độ tin cậy của thông tin phục vụ công tác quản lý, giám sát.

Về hình thức của báo cáo công bố thông tin, báo cáo công bố thông tin được xây dựng theo đúng mẫu báo cáo tại Phụ lục II kèm theo Nghị định số 47/2021/NĐ-CP và được chuyển sang dữ liệu dưới dạng điện tử (định dạng file là PDF, Word, Excel). Tên văn bản điện tử phải được đặt tương ứng với tên loại báo cáo nêu tại Phụ lục II kèm theo Nghị định số 47/2021/NĐ-CP. Ngôn ngữ thực hiện công bố thông tin là tiếng Việt. Việc thống nhất cấu trúc báo cáo và định dạng file điện tử sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc tích hợp, đồng bộ tự động vào trang thông tin điện tử của doanh nghiệp. Ngoài ra, việc sử dụng tiếng Việt khi thực hiện công bố thông tin có thể bảo đảm tính phổ cập, giúp cơ quan nhà nước và công chúng trong nước dễ dàng tiếp cận và kiểm tra thông tin.

Về giá trị pháp lý của báo cáo công bố thông tin, báo cáo công bố thông tin qua điện tử của doanh nghiệp có giá trị pháp lý như bản giấy. Đây là cơ sở đối chiếu, so sánh, xác thực thông tin phục vụ cho công tác thu thập, tổng hợp thông tin và kiểm tra, giám sát theo luật định. Việc công nhận giá trị pháp lý của bản báo cáo điện tử tương đương với bản giấy sẽ giúp cắt giảm chi phí thực hiện báo cáo, rút ngắn thời gian gửi và tiếp nhận báo cáo. Đồng thời, doanh nghiệp sẽ nâng cao trách nhiệm trong việc thực hiện và gửi báo cáo công bố thông tin đến trang thông tin điện tử của doanh nghiệp.

Về thời hạn công khai và lưu giữ thông tin, báo cáo công bố thông tin phải được duy trì trên trang thông tin điện tử của doanh nghiệp, cổng hoặc trang thông tin điện tử của cơ quan đại diện chủ sở hữu và Cổng thông tin doanh nghiệp tối thiểu 05 năm. Trong thời hạn 05 năm này, cơ quan chức năng và công chúng có thể tra cứu, đánh giá xu hướng tài chính và hoạt động của doanh nghiệp qua nhiều kỳ tài chính. Ngoài ra, doanh nghiệp công bố thông tin có nghĩa vụ bảo quản, lưu trữ thông tin đã báo cáo, công bố theo luật định, qua đó, góp phần bảo đảm khả năng truy xuất hồ sơ khi phát sinh yêu cầu xác minh hoặc vấn đề pháp lý liên quan.

Như vậy, pháp luật đã thiết lập khuôn khổ chung cho hoạt động công bố thông tin tại doanh nghiệp nhà nước, từ yêu cầu về chất lượng thông tin, chủ thể thực hiện và trách nhiệm liên quan đến hình thức báo cáo, giá trị pháp lý của dữ liệu điện tử và thời hạn lưu giữ. Việc tuân thủ đồng bộ các yêu cầu này góp phần tăng cường tính công khai, minh bạch, tạo cơ sở cho cơ quan đại diện chủ sở hữu và xã hội thực hiện giám sát, đồng thời nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc cung cấp và lưu giữ thông tin.

3. Hình thức và phương tiện công bố thông tin được quy định như thế nào?

Ngoài việc tuân thủ các nguyên tắc công bố thông tin, việc công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước phải bảo đảm yêu cầu về hình thức và phương tiện công bố. Nội dung về hình thức và phương tiện công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước được ghi nhận cụ thể tại Điều 21 Nghị định số 47/2021/NĐ-CP như sau:

"Điều 21. Hình thức và phương tiện công bố thông tin.

1. Hình thức công bố thông tin gồm văn bản và dữ liệu điện tử.

2. Các phương tiện báo cáo, công bố thông tin bao gồm:

a) Trang thông tin điện tử của doanh nghiệp.

b) Cổng hoặc trang thông tin điện tử của cơ quan đại diện chủ sở hữu.

c) Cổng thông tin doanh nghiệp.

3. Trường hợp thời điểm thực hiện công bố thông tin trùng vào ngày nghỉ, ngày lễ theo quy định pháp luật, doanh nghiệp thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công bố thông tin vào ngày làm việc đầu tiên ngay sau ngày nghỉ, ngày lễ kết thúc.

4. Việc công bố thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng khác do cơ quan đại diện chủ sở hữu quy định."

Theo đó, hình thức công bố thông tin gồm văn bản và dữ liệu điện tử. Việc cho phép công bố thông tin theo hình thức văn bản và dữ liệu điện tử cho thấy pháp luật đã thừa nhận giá trị pháp lý của thông tin được thể hiện dưới dạng dữ liệu điện tử. Điều này thể hiện nỗ lực của Nhà nước trong việc chuyển đổi số, đáp ứng tốt hơn quá trình phát triển của thị trường và công nghệ. Hơn nữa, việc sử dụng dữ liệu điện tử giúp truyền tải, tổng hợp và đồng bộ hóa báo cáo được nhanh chóng, giảm chi phí in ấn và lưu chuyển văn bản.

Báo cáo, công bố thông tin thực hiện thông qua các phương tiện sau:

- Trang thông tin điện tử của doanh nghiệp;

- Cổng hoặc trang thông tin điện tử của cơ quan đại diện chủ sở hữu;

- Cổng thông tin doanh nghiệp.

Việc công bố thông tin qua các kênh này giúp thông tin được tiếp cận từ nhiều nguồn, tạo điều kiện cho cơ quan đại diện chủ sở hữu theo dõi hoạt động của doanh nghiệp, đồng thời hỗ trợ các tổ chức, cá nhân có nhu cầu tìm hiểu thông tin. Qua đó, góp phần tăng cường tính công khai và minh bạch trong hoạt động của doanh nghiệp nhà nước.

Ngoài ra, trong trường hợp thời điểm thực hiện công bố thông tin trùng vào ngày nghỉ, ngày lễ theo luật định, doanh nghiệp sẽ thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công bố thông tin vào ngày làm việc đầu tiên ngay sau ngày nghỉ, ngày lễ kết thúc. Ngày nghỉ, ngày lễ là thời gian nghỉ làm việc theo chế độ lao động, trong khi việc công bố thông tin đòi hỏi sự tham gia của người đại diện theo pháp luật hoặc người được ủy quyền công bố thông tin cùng các bộ phận chuyên môn. Việc chuyển nghĩa vụ này sang ngày làm việc đầu tiên ngay sau ngày nghỉ, ngày lễ kết thúc giúp doanh nghiệp có đủ điều kiện vận hành bình thường để bảo đảm việc công bố thông tin được thực hiện theo đúng yêu cầu, tránh rủi ro, sai sót dữ liệu.

Bên cạnh đó, việc công bố thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng khác do cơ quan đại diện chủ sở hữu quy định. Cách tiếp cận này cho phép cơ quan đại diện chủ sở hữu quyết định việc sử dụng thêm các phương tiện truyền thông phù hợp với yêu cầu quản lý và đặc điểm của doanh nghiệp. Qua đó, phạm vi tiếp cận thông tin có thể được mở rộng khi cần thiết, góp phần nâng cao hiệu quả công khai thông tin và giám sát hoạt động của doanh nghiệp nhà nước.

Nhìn chung, pháp luật xác định các hình thức, phương tiện và thời điểm thực hiện công bố thông tin, đồng thời phân định vai trò của cơ quan đại diện chủ sở hữu trong việc quyết định sử dụng thêm các phương tiện thông tin đại chúng. Những nội dung này tạo cơ sở để doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ công bố thông tin thống nhất, thuận tiện cho việc tiếp cận và tra cứu, qua đó góp phần bảo đảm tính công khai, minh bạch trong hoạt động quản lý và giám sát doanh nghiệp nhà nước.

4. Doanh nghiệp nhà nước sử dụng tài khoản công bố thông tin của doanh nghiệp trên Cổng thông tin doanh nghiệp như thế nào?

Việc công bố thông tin trên Cổng thông tin doanh nghiệp được thực hiện thông qua tài khoản công bố thông tin được đăng ký riêng cho từng doanh nghiệp. Tài khoản công bố thông tin của doanh nghiệp trên Cổng thông tin doanh nghiệp được ghi nhận cụ thể tại Điều 22 Nghị định số 47/2021/NĐ-CP như sau:

"Điều 22. Tài khoản công bố thông tin của doanh nghiệp trên Cổng thông tin doanh nghiệp

1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư thiết lập và hướng dẫn doanh nghiệp đăng ký tài khoản công bố thông tin. Doanh nghiệp sử dụng tài khoản công bố thông tin để cập nhật thông tin cơ bản của doanh nghiệp và đăng tải báo cáo trên Cổng thông tin doanh nghiệp.

2. Tài khoản công bố thông tin của doanh nghiệp trên Cổng thông tin doanh nghiệp bao gồm các nội dung sau:

a) Thông tin về người đại diện theo pháp luật: Họ và tên, số chứng minh nhân dân/số thẻ căn cước công dân; số điện thoại; thư điện tử; chức vụ.

b) Thông tin cơ bản về doanh nghiệp: Tên doanh nghiệp; mã số doanh nghiệp, địa chỉ trụ sở chính, điện thoại, thư điện tử, trang thông tin điện tử; cơ quan đại diện chủ sở hữu; tỷ lệ vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

3. Doanh nghiệp phải đổi mật khẩu trong vòng 01 đến 03 ngày làm việc kể từ ngày được cung cấp tài khoản và có trách nhiệm bảo quản tài khoản, mật khẩu; thông báo kịp thời cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư nếu tài khoản, mật khẩu bị mất, đánh cắp hoặc phát hiện có người sử dụng trái phép tài khoản."

* Lưu ý: Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng với Bộ Tài chính được hợp nhất thành Bộ Tài chính (căn cứ mục 2.3 Phần II Kết luận số 121-KL/TW ngày 24/01/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XIII về tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XII một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và khoản 6 Điều 1 Nghị quyết số 176/2025/QH15 ngày 18/02/2025 của Quốc hội về cơ cấu tổ chức của Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khoá XV).

Theo đó, Bộ Tài chính chịu trách nhiệm thiết lập và hướng dẫn doanh nghiệp đăng ký tài khoản công bố thông tin. Điều này sẽ giúp thống nhất quy trình, giao diện và hình thức dữ liệu công bố của tất cả các doanh nghiệp nhà nước trên phạm vi toàn quốc. Doanh nghiệp sử dụng tài khoản công bố thông tin này để cập nhật thông tin cơ bản của doanh nghiệp và đăng tải báo cáo trên Cổng thông tin doanh nghiệp. Thông qua tài khoản công bố thông tin, quy trình gửi và tiếp nhận báo cáo có thể được số hóa, giảm thiểu chi phí hành chính và bảo đảm các báo cáo dưới dạng dữ liệu điện tử có giá trị pháp lý như bản giấy để phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát.

Về nội dung hiển thị trên tài khoản, tài khoản công bố thông tin của doanh nghiệp trên Cổng thông tin doanh nghiệp bao gồm các nội dung sau:

- Thông tin về người đại diện theo pháp luật: Họ và tên, số chứng minh nhân dân/số thẻ căn cước công dân; số điện thoại; thư điện tử; chức vụ;

- Thông tin cơ bản về doanh nghiệp: Tên doanh nghiệp; mã số doanh nghiệp, địa chỉ trụ sở chính, điện thoại, thư điện tử, trang thông tin điện tử; cơ quan đại diện chủ sở hữu; tỷ lệ vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

Việc xác định cụ thể các trường thông tin trên tài khoản công bố thông tin của doanh nghiệp giúp chuẩn hóa dữ liệu nhận diện doanh nghiệp và người đại diện, đồng thời làm rõ cơ quan đại diện chủ sở hữu cũng như tỷ lệ sở hữu vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp. Đây là cơ sở hỗ trợ việc tra cứu, đối chiếu thông tin và phục vụ công tác quản lý, giám sát doanh nghiệp nhà nước.

Về việc bảo mật và quản lý tài khoản, doanh nghiệp phải đổi mật khẩu trong vòng 01 đến 03 ngày làm việc kể từ ngày được cung cấp tài khoản và có trách nhiệm bảo quản tài khoản, mật khẩu, đồng thời thông báo kịp thời cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư nếu tài khoản, mật khẩu bị mất, đánh cắp hoặc phát hiện có người sử dụng trái phép tài khoản. Việc bắt buộc đổi mật khẩu sẽ giúp ngăn ngừa rủi ro lộ mật khẩu, bảo vệ an toàn cho hệ thống ngay từ đầu. Đồng thời, việc thông báo kịp thời khi tài khoản bị mất, đánh cắp hoặc phát hiện có người sử dụng trái phép tài khoản giúp cơ quan quản lý có cơ sở phối hợp xử lý sự cố, góp phần bảo đảm an toàn và độ tin cậy của dữ liệu công bố.

Tóm lại, pháp luật đặt ra cơ chế quản lý tài khoản công bố thông tin của doanh nghiệp trên Cổng thông tin doanh nghiệp tương đối cụ thể và rõ ràng, từ việc tạo lập tài khoản, xác định nội dung thông tin cần cập nhật đến yêu cầu bảo mật và xử lý sự cố. Các nội dung này góp phần chuẩn hóa dữ liệu doanh nghiệp, tạo thuận lợi cho việc thực hiện nghĩa vụ công bố thông tin và tăng cường tính an toàn, minh bạch trong quá trình cung cấp thông tin phục vụ quản lý, giám sát doanh nghiệp nhà nước.

Trân trọng./.