Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước là gì? Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước được quy định như thế nào?

Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước là gì? Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước được quy định như thế nào?

Luật sư cho tôi hỏi: Tôi hiện là người quản lý tại một doanh nghiệp nhà nước và đang tìm hiểu các yêu cầu pháp lý liên quan đến việc cung cấp, cập nhật và khai thác thông tin doanh nghiệp phục vụ công tác quản lý. Tôi được biết Nhà nước xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước, nhưng chưa rõ hệ thống này bao gồm những thông tin gì, được tổ chức và vận hành ra sao, cũng như doanh nghiệp có nghĩa vụ gì trong quá trình cung cấp và cập nhật dữ liệu. Vậy cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước là gì và được pháp luật quy định như thế nào? Rất mong Luật sư giải đáp. Xin cảm ơn!

MỤC LỤC

1. Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước là gì?

2. Nguyên tắc xây dựng, cập nhật, quản lý và khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước được quy định như thế nào?

3. Pháp luật quy định như thế nào về quản lý, khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước?

4. Kinh phí xây dựng, cập nhật, quản lý và khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước được pháp luật quy định như thế nào?

 

Trả lời:

1. Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước là gì?

Thông tin phục vụ công tác quản lý, giám sát doanh nghiệp nhà nước được tập trung và hệ thống hóa tại cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước. Pháp luật giải thích cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước tại khoản 5 Điều 2 Nghị định số 47/2021/NĐ-CP ngày 01/04/2021 của Chính phủ về quy định chi tiết một số điều của Luật Doanh nghiệp (sau đây gọi tắt là "Nghị định số 47/2021/NĐ-CP"), cụ thể như sau:

"Điều 2. Giải thích từ ngữ.

Trong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

…

5. Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước là tập hợp dữ liệu về các thông tin cơ bản của doanh nghiệp nhà nước được xây dựng, cập nhật, quản lý và khai thác trên Cổng thông tin doanh nghiệp để đáp ứng yêu cầu cung cấp thông tin về doanh nghiệp nhà nước và phục vụ lợi ích xã hội.

…"

Theo đó, Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước là tập hợp dữ liệu về các thông tin cơ bản của doanh nghiệp nhà nước được xây dựng, cập nhật, quản lý và khai thác trên Cổng thông tin doanh nghiệp để đáp ứng yêu cầu cung cấp thông tin về doanh nghiệp nhà nước và phục vụ lợi ích xã hội. Có thể thấy, pháp luật cho phép thiết lập một cơ sở dữ liệu tập trung về doanh nghiệp nhà nước, thay thế cho phương thức lưu trữ, báo cáo bằng văn bản giấy trước đây. Đồng thời, việc cập nhật và quản lý dữ liệu trên một hệ thống thống nhất góp phần nâng cao tính đầy đủ, nhất quán của thông tin, hạn chế tình trạng dữ liệu phân tán hoặc không được cập nhật kịp thời. Qua đó, quy định này hỗ trợ tăng cường tính công khai, minh bạch trong hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, đáp ứng nhu cầu tìm hiểu thông tin của xã hội và phục vụ công tác quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

2. Nguyên tắc xây dựng, cập nhật, quản lý và khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước được quy định như thế nào?

Để bảo đảm Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước đáp ứng yêu cầu quản lý, giám sát và cung cấp thông tin, pháp luật đã thiết lập nguyên tắc xây dựng, cập nhật, quản lý và khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước tại Điều 27 Nghị định số 47/2021/NĐ-CP, cụ thể như sau:

"Điều 27. Nguyên tắc xây dựng, cập nhật, quản lý và khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước.

1. Việc xây dựng, cập nhật, quản lý và khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước phải đảm bảo theo các yêu cầu sau đây:

a) Nội dung phù hợp, chính xác, kịp thời, hiệu quả;

b) Tận dụng nguồn dữ liệu sẵn có; hạn chế tối đa việc thu thập lại cùng một nguồn dữ liệu;

c) Ưu tiên mục tiêu sử dụng dài hạn; đáp ứng nhiều mục đích khác nhau.

2. Thiết kế cấu trúc hệ thống của Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước phải đáp ứng tiêu chuẩn về cơ sở dữ liệu và các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, công nghệ thông tin và định mức kinh tế - kỹ thuật; có tính tương thích, khả năng tích hợp, chia sẻ thông tin thông suốt và an toàn giữa các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp nhà nước; khả năng mở rộng các trường dữ liệu trong thiết kế hệ thống và phần mềm ứng dụng.

3. Thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước được thu thập, cập nhật từ các báo cáo công bố thông tin định kỳ, bất thường của doanh nghiệp và dữ liệu tổng hợp trên Cổng thông tin doanh nghiệp."

Theo đó, thứ nhất, việc xây dựng, cập nhật, quản lý và khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước phải bảo đảm các yêu cầu sau:

- Nội dung phù hợp, chính xác, kịp thời, hiệu quả: Đây có thể được xem là bộ tiêu chuẩn cho việc vận hành Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước, ngăn ngừa tình trạng dữ liệu sai lệch hoặc không kịp thời cập nhật gây ảnh hưởng đến công tác quản lý;

- Tận dụng nguồn dữ liệu sẵn có, hạn chế tối đa việc thu thập lại cùng một nguồn dữ liệu: Nguyên tắc này giúp hạn chế tình trạng thu thập thông tin trùng lặp, giảm việc phải nộp cùng một báo cáo cho doanh nghiệp nhà nước khi làm việc với nhiều cơ quan quản lý khác nhau, tránh lãng phí thời gian và nguồn lực;

- Ưu tiên mục tiêu sử dụng dài hạn, đáp ứng nhiều mục đích khác nhau: Ưu tiên mục tiêu sử dụng dài hạn giúp dữ liệu về doanh nghiệp nhà nước không chỉ phục vụ việc thanh tra, kiểm tra trong ngắn hạn mà còn tạo lịch sử dữ liệu để tổng hợp, phân tích xu hướng phát triển và hỗ trợ hoạch định chính sách kinh tế.

Thứ hai, việc thiết kế cấu trúc hệ thống của Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước phải đáp ứng các yêu cầu sau:

- Tiêu chuẩn về cơ sở dữ liệu và các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, công nghệ thông tin và định mức kinh tế - kỹ thuật: Yêu cầu này định hướng việc thiết kế hệ thống theo tiêu chuẩn nhất định, bảo đảm cơ sở dữ liệu được tổ chức phù hợp với yêu cầu kỹ thuật và khả năng vận hành thực tế;

- Có tính tương thích, khả năng tích hợp, chia sẻ thông tin thông suốt và an toàn giữa các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp nhà nước: Đòi hỏi hệ thống có khả năng kết nối với các hệ thống dữ liệu liên quan, hỗ trợ trao đổi thông tin giữa các chủ thể mà vẫn bảo đảm an toàn trong quá trình chia sẻ và khai thác dữ liệu;

- Khả năng mở rộng các trường dữ liệu trong thiết kế hệ thống và phần mềm ứng dụng: Yêu cầu này cho phép bổ sung các nhóm thông tin cần thiết khi nhu cầu quản lý, giám sát hoặc khai thác dữ liệu thay đổi, thay vì phải xây dựng lại toàn bộ hệ thống.

Thứ ba, thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước được thu thập, cập nhật từ các báo cáo công bố thông tin định kỳ, bất thường của doanh nghiệp và dữ liệu tổng hợp trên Cổng thông tin doanh nghiệp. Việc xác định nguồn dữ liệu cụ thể góp phần tạo cơ sở cho quá trình thu thập, cập nhật và quản lý thông tin có tính thống nhất, đồng thời gắn liền dữ liệu trong hệ thống với hoạt động công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước. Cơ chế này hỗ trợ cơ quan quản lý theo dõi tình hình hoạt động của doanh nghiệp dựa trên các báo cáo được cung cấp, đồng thời tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân khai thác thông tin phục vụ nhu cầu tìm hiểu và giám sát doanh nghiệp nhà nước.

Tóm lại, việc xây dựng, cập nhật, quản lý và khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước được xác lập dựa trên các yêu cầu từ việc bảo đảm chất lượng dữ liệu, thiết kế hệ thống đến thu thập và cập nhật thông tin. Các yêu cầu này không chỉ góp phần bảo đảm thông tin được cập nhật và khai thác hiệu quả mà còn tạo điều kiện tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các chủ thể có liên quan. Qua đó, cơ sở dữ liệu trở thành công cụ hỗ trợ công tác quản lý, giám sát doanh nghiệp nhà nước, tăng cường tính minh bạch và tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân tiếp cận thông tin.

3. Pháp luật quy định như thế nào về quản lý, khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước?

Việc quản lý và khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước cần được thực hiện theo cơ chế thống nhất nhằm bảo đảm thông tin được cung cấp, truy cập và sử dụng đúng mục đích. Trên cơ sở đó, pháp luật ghi nhận nội dung về quản lý, khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước tại Điều 28 Nghị định số 47/2021/NĐ-CP, cụ thể như sau:

"Điều 28. Quản lý, khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước.

1. Thông tin của doanh nghiệp được cung cấp công khai trên Cổng thông tin doanh nghiệp bao gồm: Tên doanh nghiệp, mã số doanh nghiệp, địa chỉ trụ sở chính, cơ quan đại diện chủ sở hữu, tỷ lệ vốn nhà nước tại doanh nghiệp, tên người đại diện theo pháp luật, ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp và các báo cáo công bố thông tin định kỳ và bất thường của doanh nghiệp.

2. Doanh nghiệp có quyền khai thác thông tin, dữ liệu tổng hợp tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước thông qua tài khoản công bố thông tin của doanh nghiệp.

3. Việc quản lý và khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Kế hoạch và Đầu tư."

* Lưu ý: Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng với Bộ Tài chính được hợp nhất thành Bộ Tài chính (căn cứ mục 2.3 Phần II Kết luận số 121-KL/TW ngày 24/01/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XIII về tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XII một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và khoản 6 Điều 1 Nghị quyết số 176/2025/QH15 ngày 18/02/2025 của Quốc hội về cơ cấu tổ chức của Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khoá XV).

Theo đó, thông tin của doanh nghiệp nhà nước được cung cấp công khai trên Cổng thông tin doanh nghiệp bao gồm: Tên doanh nghiệp, mã số doanh nghiệp, địa chỉ trụ sở chính, cơ quan đại diện chủ sở hữu, tỷ lệ vốn nhà nước tại doanh nghiệp, tên người đại diện theo pháp luật, ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp và các báo cáo công bố thông tin định kỳ và bất thường của doanh nghiệp. Vậy phạm vi công khai không chỉ dừng lại ở những thông tin cơ bản phục vụ cho việc nhận diện doanh nghiệp mà còn bao gồm các báo cáo phản ánh tình hình hoạt động theo nghĩa vụ công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước. Việc xác định cụ thể các thông tin được công khai tạo điều kiện để các chủ thể có liên quan và quan tâm đến doanh nghiệp tiếp cận thông tin cần thiết về doanh nghiệp nhà nước, đồng thời hỗ trợ cơ quan quản lý nhà nước theo dõi tình hình sử dụng, quản lý vốn nhà nước và hoạt động của doanh nghiệp.

Ngoài ra, doanh nghiệp có quyền khai thác thông tin, dữ liệu tổng hợp tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước thông qua tài khoản công bố thông tin của doanh nghiệp. Có thể thấy, doanh nghiệp không chỉ đóng vai trò là chủ thể cung cấp báo cáo và dữ liệu mà còn có quyền khai thác, sử dụng thông tin, dữ liệu. Việc được cấp quyền truy cập vào nguồn dữ liệu tổng hợp giúp cơ quan quản lý tại doanh nghiệp tra cứu, phân tích xu hướng ngành, đối chiếu hiệu quả quản trị với các doanh nghiệp cùng lĩnh vực, từ đó hoàn thiện chiến lược kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Bên cạnh đó, việc quản lý và khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài chính. Việc xác định cụ thể cơ quan hướng dẫn góp phần bảo đảm tính thống nhất trong quá trình tổ chức quản lý và khai thác dữ liệu, hạn chế sự khác biệt trong cách thức thực hiện giữa các chủ thể liên quan. Đồng thời, cơ chế hướng dẫn tạo điều kiện để các quy trình quản lý, truy cập và sử dụng dữ liệu được cụ thể hóa, hỗ trợ hệ thống vận hành ổn định và đáp ứng yêu cầu cung cấp thông tin về doanh nghiệp nhà nước.

Nhìn chung, pháp luật thiết lập cơ chế quản lý và khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước thông qua việc xác định phạm vi thông tin công khai, ghi nhận quyền khai thác dữ liệu của doanh nghiệp và giao cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn thực hiện. Các nội dung này góp phần bảo đảm thông tin về doanh nghiệp nhà nước được cung cấp và sử dụng có hệ thống, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tra cứu, quản lý và giám sát, đồng thời thúc đẩy tính công khai, minh bạch trong hoạt động của doanh nghiệp.

4. Kinh phí xây dựng, cập nhật, quản lý và khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước được pháp luật quy định như thế nào?

Để Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước được vận hành ổn định, duy trì thường xuyên và phát triển hiệu quả, cần xác định rõ các nguồn lực tài chính cũng như cơ chế quản lý, sử dụng kinh phí phục vụ quá trình xây dựng, cập nhật, quản lý và khai thác hệ thống dữ liệu này. Kinh phí xây dựng, cập nhật, quản lý và khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước được pháp luật ghi nhận tại Điều 29 Nghị định 47/2021/NĐ-CP, cụ thể như sau:

"Điều 29. Kinh phí xây dựng, cập nhật, quản lý và khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước.

1. Kinh phí xây dựng, cập nhật, quản lý và khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước được sử dụng từ các nguồn sau:

a) Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước cấp;

b) Nguồn vốn viện trợ, tài trợ và các nguồn vốn hợp pháp khác.

2. Việc quản lý, sử dụng kinh phí để xây dựng, cập nhật, quản lý và khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước thực hiện theo quy định tại Luật Ngân sách nhà nước, pháp luật về đấu thầu, quy định của nhà tài trợ và các quy định pháp luật có liên quan."

Theo đó, kinh phí phục vụ việc xây dựng, cập nhật, quản lý và khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước được huy động từ hai nguồn chính:

- Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước cấp;

- Nguồn vốn viện trợ, tài trợ và các nguồn vốn hợp pháp khác.

Ngân sách nhà nước có thể được xem là nguồn vốn nền tảng, bảo đảm hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia được đầu tư toàn diện, được vận hành liên tục và không bị gián đoạn do thiếu hụt tài chính. Bên cạnh đó, việc cho phép huy động nguồn vốn viện trợ, tài trợ và các nguồn vốn hợp pháp khác có thể giúp giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước, đồng thời tiếp cận được nguồn lực và thành tựu khoa học công nghệ từ các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài.

Ngoài ra, việc quản lý, sử dụng kinh phí để xây dựng, cập nhật, quản lý và khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước thực hiện theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước, pháp luật về đấu thầu, quy định của nhà tài trợ và pháp luật có liên quan. Yêu cầu tuân thủ các quy định pháp luật trên tạo cơ sở kiểm soát việc phân bổ và sử dụng kinh phí, góp phần bảo đảm các khoản chi được thực hiện đúng căn cứ, mục đích và trình tự. Đồng thời, việc tuân thủ pháp luật về đấu thầu và các điều kiện của nhà tài trợ giúp tăng cường tính minh bạch trong quá trình lựa chọn nhà cung cấp, triển khai hoạt động và tiếp nhận nguồn vốn. Qua đó, doanh nghiệp có thể hạn chế nguy cơ sử dụng kinh phí sai mục đích, lãng phí nguồn lực và nâng cao hiệu quả đầu tư cho Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước.

Nhìn chung, Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước có nguồn lực tài chính vững chắc và linh hoạt thông qua việc phối hợp giữa nguồn ngân sách nhà nước với nguồn vốn viện trợ, tài trợ và các nguồn vốn hợp pháp khác. Đồng thời, việc tuân thủ các quy định về quản lý và sử dụng kinh phí tạo cơ sở kiểm soát quá trình phân bổ, chi tiêu, góp phần hạn chế lãng phí và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực. Đây là điều kiện cần thiết để duy trì hoạt động, cập nhật thông tin và phát triển hệ thống cơ sở dữ liệu, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước.

Trân trọng./.