Chế độ làm việc của Ban kiểm soát tại doanh nghiệp nhà nước được quy định như thế nào?

Chế độ làm việc của Ban kiểm soát tại doanh nghiệp nhà nước được quy định như thế nào?

Luật sư cho tôi hỏi: Hiện tôi đang giữ chức vụ Kiểm soát viên tại một doanh nghiệp nhà nước. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, tôi muốn tìm hiểu về nguyên tắc tổ chức, cách thức phối hợp và chế độ làm việc của Ban kiểm soát để bảo đảm hoạt động giám sát được thực hiện đúng quy định pháp luật. Vậy chế độ làm việc của Ban kiểm soát tại doanh nghiệp nhà nước được pháp luật quy định như thế nào? Rất mong Luật sư giải đáp. Xin cảm ơn!

MỤC LỤC

1. Pháp luật quy định như thế nào về chế độ làm việc của Ban kiểm soát?

2. Quy chế hoạt động của Ban kiểm soát, Kiểm soát viên được quy định như thế nào?

 

Trả lời:

1. Pháp luật quy định như thế nào về chế độ làm việc của Ban kiểm soát?

Với mục đích bảo đảm việc thực hiện nhiệm vụ của Ban kiểm soát được hiệu quả, Ban kiểm soát cần được xây dựng chế độ làm việc rõ ràng. Chế độ làm việc của Ban kiểm soát được ghi nhận tại Điều 106 Luật Doanh nghiệp năm 2020, cụ thể như sau:

"Điều 106. Chế độ làm việc của Ban kiểm soát

1. Trưởng Ban kiểm soát xây dựng kế hoạch công tác hằng tháng, hằng quý và hằng năm của Ban kiểm soát; phân công nhiệm vụ và công việc cụ thể cho từng Kiểm soát viên.

2. Kiểm soát viên chủ động và độc lập thực hiện nhiệm vụ và công việc được phân công; đề xuất, kiến nghị thực hiện nhiệm vụ, công việc kiểm soát khác ngoài kế hoạch, ngoài phạm vi được phân công khi xét thấy cần thiết.

3. Ban kiểm soát họp ít nhất mỗi tháng một lần để rà soát, đánh giá, thông qua báo cáo kết quả kiểm soát trong tháng trình cơ quan đại diện chủ sở hữu; thảo luận và thông qua kế hoạch hoạt động tiếp theo của Ban kiểm soát.

4. Quyết định của Ban kiểm soát được thông qua khi có đa số thành viên dự họp tán thành. Các ý kiến khác với nội dung quyết định đã được thông qua phải được ghi chép đầy đủ, chính xác và báo cáo cơ quan đại diện chủ sở hữu."

Theo đó, Trưởng Ban kiểm soát xây dựng kế hoạch công tác hằng tháng, hằng quý và hằng năm của Ban kiểm soát, đồng thời, phân công nhiệm vụ và công việc cụ thể cho từng Kiểm soát viên. Điều này bảo đảm hoạt động kiểm soát được tổ chức chặt chẽ, có lộ trình theo chu kỳ ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Bên cạnh đó, nội dung này cũng giúp khẳng định vai trò người đứng đầu của Trưởng Ban kiểm soát trong việc phân công công việc đúng chuyên môn, tạo căn cứ để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của từng cá nhân.

Cùng với đó, Kiểm soát viên chủ động và độc lập thực hiện nhiệm vụ và công việc được phân công, cũng như đề xuất, kiến nghị thực hiện nhiệm vụ, công việc kiểm soát khác ngoài kế hoạch, ngoài phạm vi được phân công khi xét thấy cần thiết. Điều này tạo điều kiện để Kiểm soát viên kịp thời phản ứng trước những vấn đề phát sinh trong quá trình giám sát, thay vì chỉ giới hạn hoạt động trong kế hoạch đã xây dựng. Đồng thời, tính độc lập trong thực hiện nhiệm vụ góp phần bảo đảm việc xem xét, đánh giá được tiến hành khách quan, hỗ trợ phát hiện sớm sai sót và rủi ro trong hoạt động của doanh nghiệp.

Về chế độ họp định kỳ, Ban kiểm soát họp ít nhất mỗi tháng một lần để rà soát, đánh giá, thông qua báo cáo kết quả kiểm soát trong tháng trình cơ quan đại diện chủ sở hữu, đồng thời, thảo luận và thông qua kế hoạch hoạt động tiếp theo của Ban kiểm soát. Tần suất họp này tạo cơ chế để các thành viên cập nhật tình hình, trao đổi kết quả thực hiện nhiệm vụ và thống nhất phương hướng kiểm soát trong thời gian tới. Qua đó, hoạt động giám sát được duy trì thường xuyên, giúp cơ quan đại diện chủ sở hữu có thông tin phục vụ việc theo dõi, đánh giá tình hình quản lý và điều hành doanh nghiệp.

Về nguyên tắc thông qua quyết định, quyết định của Ban kiểm soát được thông qua khi có đa số thành viên dự họp tán thành. Các ý kiến khác với nội dung quyết định đã được thông qua phải được ghi chép đầy đủ, chính xác và báo cáo cơ quan đại diện chủ sở hữu. Cơ chế biểu quyết theo đa số giúp Ban kiểm soát hình thành quyết định chung để triển khai công việc, trong khi yêu cầu ghi nhận và báo cáo ý kiến khác biệt bảo đảm các quan điểm không đồng thuận vẫn được phản ánh, tránh bị bỏ qua trong quá trình xem xét vấn đề. Điều này góp phần tăng cường tính minh bạch và cung cấp thêm thông tin cho cơ quan đại diện chủ sở hữu khi đánh giá hoạt động của Ban kiểm soát.

Tóm lại, pháp luật thiết lập cơ chế làm việc kết hợp giữa sự điều phối của Trưởng Ban kiểm soát, tính chủ động và độc lập của từng Kiểm soát viên, chế độ họp thường xuyên và nguyên tắc ra quyết định tập thể. Cơ chế này góp phần bảo đảm hoạt động kiểm soát được thực hiện liên tục, có sự phối hợp nhưng vẫn duy trì tính độc lập cần thiết, đồng thời nâng cao khả năng phát hiện sai sót và hỗ trợ giám sát việc quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

2. Quy chế hoạt động của Ban kiểm soát, Kiểm soát viên được quy định như thế nào?

Để bảo đảm hoạt động kiểm tra, giám sát tại doanh nghiệp nhà nước được thực hiện có kế hoạch, pháp luật đã đặt ra những quy định về quy chế hoạt động của Ban kiểm soát, Kiểm soát viên tại Điều 10 Nghị định số 47/2021/NĐ-CP ngày 01/04/2021 của Chính phủ về quy định chi tiết một số điều của Luật Doanh nghiệp, cụ thể như sau

"Điều 10. Quy chế hoạt động của Ban kiểm soát, Kiểm soát viên.

1. Cơ quan đại diện chủ sở hữu của doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 88 Luật Doanh nghiệp ban hành Quy chế hoạt động của Ban kiểm soát, Kiểm soát viên.

2. Hội đồng thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là doanh nghiệp nhà nước và là công ty con của doanh nghiệp nhà nước theo quy định tại khoản 1 Điều 88 Luật Doanh nghiệp ban hành Quy chế hoạt động của Ban kiểm soát, Kiểm soát viên tại doanh nghiệp.

3. Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty của Công ty mẹ là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ ban hành Quy chế hoạt động của Ban kiểm soát, Kiểm soát viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Công ty mẹ nắm giữ 100% vốn điều lệ.

4. Quy chế hoạt động của Ban kiểm soát, Kiểm soát viên bao gồm các nội dung sau đây:

a) Phạm vi, nội dung thực hiện các quyền, nghĩa vụ và nhiệm vụ được giao của Ban Kiểm soát, Kiểm soát viên;

b) Cơ chế phối hợp; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của doanh nghiệp, người quản lý doanh nghiệp đối với hoạt động của Ban kiểm soát, Kiểm soát viên;

c) Cơ chế phối hợp, báo cáo, xin ý kiến giữa cơ quan đại diện chủ sở hữu và Ban kiểm soát, Kiểm soát viên trong thực hiện quyền, nghĩa vụ được giao;

d) Cơ chế phối hợp giữa Ban kiểm soát, Kiểm soát viên với doanh nghiệp, người quản lý doanh nghiệp và người đại diện chủ sở hữu trực tiếp, người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp, người đại diện phần vốn của doanh nghiệp tại doanh nghiệp khác trong thực hiện quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của Ban kiểm soát, Kiểm soát viên đối với doanh nghiệp, công ty con, công ty có phần vốn góp hoặc công ty liên kết của doanh nghiệp.

đ) Cơ chế đánh giá việc thực hiện quyền, nghĩa vụ và nhiệm vụ của Trưởng Ban kiểm soát, Kiểm soát viên;

e) Tiền lương, thù lao, tiền thưởng, điều kiện làm việc, định mức chi phí công tác, chi phí hoạt động của Ban kiểm soát, Kiểm soát viên;

g) Nội dung khác theo quyết định của cơ quan đại diện chủ sở hữu."

Dẫn chiếu đến khoản 1 Điều 88 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định như sau:

"Điều 88. Doanh nghiệp nhà nước

1. Doanh nghiệp nhà nước được tổ chức quản lý dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, bao gồm:

a) Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ;

b) Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết, trừ doanh nghiệp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này.

…"

Theo đó, thẩm quyền ban hành Quy chế hoạt động Ban kiểm soát, Kiểm soát viên theo từng trường hợp như sau:

- Đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ theo Luật Doanh nghiệp năm 2020, cơ quan đại diện chủ sở hữu của doanh nghiệp ban hành Quy chế hoạt động của Ban kiểm soát, Kiểm soát viên.

- Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là doanh nghiệp nhà nước và là công ty con của doanh nghiệp nhà nước theo Luật Doanh nghiệp năm 2020, Hội đồng thành viên là chủ thể có thẩm quyền ban hành Quy chế hoạt động của Ban kiểm soát, Kiểm soát viên tại doanh nghiệp.

- Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Công ty mẹ nắm giữ 100% vốn điều lệ, Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty của Công ty mẹ là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ ban hành Quy chế hoạt động của Ban kiểm soát, Kiểm soát viên.

Việc xác định thẩm quyền ban hành Quy chế hoạt động theo từng mô hình doanh nghiệp giúp phân định rõ trách nhiệm của cơ quan đại diện chủ sở hữu, Hội đồng thành viên và Chủ tịch công ty trong việc thiết lập quy chế hoạt động của Ban kiểm soát, Kiểm soát viên. Qua đó, quy chế được ban hành bởi đúng chủ thể có thẩm quyền, phù hợp với cơ cấu tổ chức và quan hệ sở hữu của từng doanh nghiệp, góp phần hạn chế sự chồng chéo trong quản lý, bảo đảm cơ sở pháp lý cho hoạt động kiểm soát và nâng cao hiệu quả giám sát việc quản lý, sử dụng vốn nhà nước.

Quy chế hoạt động của Ban kiểm soát, Kiểm soát viên bao gồm các nội dung sau:

- Phạm vi, nội dung thực hiện các quyền, nghĩa vụ và nhiệm vụ được giao của Ban Kiểm soát, Kiểm soát viên;

- Cơ chế phối hợp; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của doanh nghiệp, người quản lý doanh nghiệp đối với hoạt động của Ban kiểm soát, Kiểm soát viên;

- Cơ chế phối hợp, báo cáo, xin ý kiến giữa cơ quan đại diện chủ sở hữu và Ban kiểm soát, Kiểm soát viên trong thực hiện quyền, nghĩa vụ được giao;

- Cơ chế phối hợp giữa Ban kiểm soát, Kiểm soát viên với doanh nghiệp, người quản lý doanh nghiệp và người đại diện chủ sở hữu trực tiếp, người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp, người đại diện phần vốn của doanh nghiệp tại doanh nghiệp khác trong thực hiện quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của Ban kiểm soát, Kiểm soát viên đối với doanh nghiệp, công ty con, công ty có phần vốn góp hoặc công ty liên kết của doanh nghiệp;

- Cơ chế đánh giá việc thực hiện quyền, nghĩa vụ và nhiệm vụ của Trưởng Ban kiểm soát, Kiểm soát viên;

- Tiền lương, thù lao, tiền thưởng, điều kiện làm việc, định mức chi phí công tác, chi phí hoạt động của Ban kiểm soát, Kiểm soát viên;

- Nội dung khác theo quyết định của cơ quan đại diện chủ sở hữu.

Việc xác định rõ các nội dung trên vào Quy chế hoạt động của Ban kiểm soát, Kiểm soát viên giúp cụ thể hóa cách thức tổ chức và thực hiện hoạt động kiểm soát tại doanh nghiệp, làm rõ trách nhiệm của các chủ thể liên quan, đồng thời tạo cơ sở để đánh giá hiệu quả công tác và bảo đảm các điều kiện cần thiết cho Ban kiểm soát, Kiểm soát viên thực hiện nhiệm vụ. Qua đó, góp phần nâng cao tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong hoạt động giám sát, quản lý và sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

Như vậy, pháp luật thiết lập cơ sở để tổ chức hoạt động của Ban kiểm soát, Kiểm soát viên thông qua thẩm quyền ban hành quy chế theo từng trường hợp và các nội dung cần có trong Quy chế hoạt động của Ban kiểm soát, Kiểm soát viên. Quy chế hoạt động không chỉ làm rõ phạm vi nhiệm vụ và cơ chế phối hợp mà còn tạo căn cứ đánh giá kết quả công tác, bảo đảm điều kiện làm việc và xác định trách nhiệm của các bên liên quan. Qua đó, quy định này góp phần tăng cường tính minh bạch, hiệu quả của hoạt động kiểm soát và hỗ trợ việc giám sát quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

Trân trọng./.