Nhóm công ty mẹ - công ty con bao gồm các công ty nào? Sở hữu chéo giữa các công ty trong nhóm công ty được quy định như thế nào?

Nhóm công ty mẹ - công ty con bao gồm các công ty nào? Sở hữu chéo giữa các công ty trong nhóm công ty được quy định như thế nào?

Luật sư cho tôi hỏi: Tôi hiện là cổ đông của một công ty và được biết công ty có mối quan hệ công ty mẹ - công ty con với một doanh nghiệp khác. Tôi muốn làm rõ nhóm công ty mẹ - công ty con bao gồm những công ty nào? Sở hữu chéo giữa các công ty trong nhóm công ty được quy định như thế nào? Rất mong Luật sư tư vấn. Xin cảm ơn!

MỤC LỤC

1. Nhóm công ty mẹ - công ty con bao gồm các công ty nào?

2. Sở hữu chéo giữa các công ty trong nhóm công ty được quy định như thế nào?

 

Trả lời:

1. Nhóm công ty mẹ - công ty con bao gồm các công ty nào?

Nhóm công ty mẹ - công ty con được xác định dựa trên mối quan hệ liên kết giữa các doanh nghiệp. Nội dung này được làm rõ tại khoản 3 Điều 2 Nghị định số 47/2021/NĐ-CP ngày 01/04/2021 của Chính phủ về quy định chi tiết một số điều của Luật Doanh nghiệp (sau đây gọi tắt là "Nghị định số 47/2021/NĐ-CP"), cụ thể như sau:

"Điều 2. Giải thích từ ngữ.

Trong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

…

3. Nhóm công ty mẹ - công ty con bao gồm các công ty có mối quan hệ với nhau thông qua sở hữu cổ phần, phần vốn góp hoặc liên kết khác.

…"

Theo đó, nhóm công ty mẹ - công ty con bao gồm các công ty có mối quan hệ với nhau thông qua sở hữu cổ phần, phần vốn góp hoặc các liên kết khác. Pháp luật đã làm rõ nhóm công ty mẹ - công ty con không phải là một pháp nhân hoặc loại hình doanh nghiệp, mà là tập hợp các chủ thể pháp lý riêng có mối quan hệ phụ thuộc hoặc hợp tác với nhau. Việc xác định rõ nhóm công ty mẹ - công ty con là gì sẽ tạo cơ sở để áp dụng pháp luật phù hợp, từ đó, xác định chính xác quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý của từng chủ thể trong quá trình hoạt động.

2. Sở hữu chéo giữa các công ty trong nhóm công ty được quy định như thế nào?

Nhằm hạn chế tình trạng sở hữu chéo và bảo đảm tính minh bạch trong cơ cấu vốn giữa các doanh nghiệp thuộc cùng một nhóm, pháp luật đặt ra những giới hạn nhất định đối với hoạt động góp vốn, mua cổ phần giữa công ty mẹ và công ty con, cũng như giữa các công ty con với nhau. Điều này được ghi nhận cụ thể tại Điều 195 Luật Doanh nghiệp 2020 và Điều 12 Nghị định số 47/2021/ NĐ-CP như sau:

"Điều 195. Công ty mẹ, công ty con

1. Một công ty được coi là công ty mẹ của công ty khác nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Sở hữu trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần phổ thông của công ty đó;

b) Có quyền trực tiếp hoặc gián tiếp quyết định bổ nhiệm đa số hoặc tất cả thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của công ty đó;

c) Có quyền quyết định việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ của công ty đó.

2. Công ty con không được đầu tư mua cổ phần, góp vốn vào công ty mẹ. Các công ty con của cùng một công ty mẹ không được đồng thời cùng góp vốn, mua cổ phần để sở hữu chéo lẫn nhau.

3. Các công ty con có cùng một công ty mẹ là doanh nghiệp có sở hữu ít nhất 65% vốn nhà nước không được cùng nhau góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp khác hoặc để thành lập doanh nghiệp mới theo quy định của Luật này.

4. Chính phủ quy định chi tiết khoản 2 và khoản 3 Điều này."

Và

"Điều 12. Sở hữu chéo giữa các công ty trong nhóm công ty.

1. Việc góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp khác hoặc để thành lập doanh nghiệp theo quy định tại Khoản 3 Điều 195 Luật Doanh nghiệp bao gồm trường hợp sau:

a) Cùng góp vốn để thành lập doanh nghiệp mới.

b) Cùng mua phần vốn góp, mua cổ phần của doanh nghiệp đã thành lập.

c) Cùng nhận chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp của các thành viên, cổ đông của doanh nghiệp đã thành lập.

2. Doanh nghiệp có sở hữu ít nhất 65% vốn Nhà nước theo khoản 3 Điều 195 Luật Doanh nghiệp là doanh nghiệp nhà nước do Nhà nước nắm giữ từ 65% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết trở lên.

3. Chủ tịch công ty, Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị của công ty chịu trách nhiệm bảo đảm tuân thủ đúng quy định tại Điều 195 Luật Doanh nghiệp khi đề xuất, quyết định góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của công ty khác và cùng liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại xảy ra cho công ty khi vi phạm quy định tại khoản này.

4. Cơ quan đăng ký kinh doanh từ chối đăng ký thay đổi thành viên, cổ đông công ty nếu trong quá trình thụ lý hồ sơ phát hiện việc góp vốn, mua cổ phần thành lập doanh nghiệp hoặc chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp liên quan vi phạm quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 195 Luật Doanh nghiệp."

Theo đó, pháp luật không cho phép công ty con đầu tư mua cổ phần, góp vốn vào công ty mẹ và các công ty con của cùng một công ty mẹ không được đồng thời cùng góp vốn, mua cổ phần để sở hữu chéo lẫn nhau. Điều này có thể giúp ngăn chặn tình trạng tăng vốn điều lệ không đúng với thực tế. Ví dụ: Khi công ty mẹ góp 10 tỷ vào công ty con và công ty con lại dùng 10 tỷ đó mua cổ phần của công ty mẹ, về mặt sổ sách kế toán, tổng vốn điều lệ của hai bên sẽ tăng lên 20 tỷ nhưng số tiền thực tế tăng lên chỉ có 10 tỷ. Vốn điều lệ về mặt kế toán trong trường hợp này phản ánh không đúng thực tế, mất đi tính minh bạch trong cơ cấu vốn và có thể ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên liên quan. Thêm vào đó, nếu các công ty con sở hữu chéo lẫn nhau thì công ty mẹ có thể sử dụng quyền biểu quyết của công ty con A để can thiệp hoặc thông qua các quyết định có lợi cho mình tại công ty con B. Điều này sẽ xâm phạm nghiêm trọng quyền lợi của các cổ đông nhỏ lẻ tại công ty con B.

Ngoài ra, các công ty con có cùng một công ty mẹ là doanh nghiệp có sở hữu ít nhất 65% vốn nhà nước không được cùng nhau góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp khác hoặc để thành lập doanh nghiệp mới theo Luật Doanh nghiệp năm 2020. Điều này nhằm kiểm soát hoạt động đầu tư giữa các doanh nghiệp có chung công ty mẹ thuộc nhóm có vốn nhà nước chi phối, hạn chế nguy cơ hình thành các mối liên kết sở hữu phức tạp và bảo đảm việc góp vốn, đầu tư được thực hiện phù hợp với khuôn khổ pháp luật.

Để cụ thể hóa hạn chế này, pháp luật đồng thời làm rõ các hình thức giao dịch thuộc phạm vi điều chỉnh, tiêu chí xác định doanh nghiệp có vốn nhà nước từ 65% trở lên, trách nhiệm của người quản lý và cơ chế kiểm soát của cơ quan đăng ký kinh doanh. Cụ thể:

Thứ nhất, việc góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp khác hoặc để thành lập doanh nghiệp nêu trên bao gồm các trường hợp sau:

- Cùng góp vốn để thành lập doanh nghiệp mới.

- Cùng mua phần vốn góp, mua cổ phần của doanh nghiệp đã thành lập.

- Cùng nhận chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp của các thành viên, cổ đông của doanh nghiệp đã thành lập.

Có thể thấy, pháp luật đã làm rõ phạm vi các hình thức góp vốn, mua cổ phần, thành lập doanh nghiệp khác bị hạn chế giữa các công ty con trong cùng nhóm và xác định cụ thể doanh nghiệp nào thuộc trường hợp bị áp dụng hạn chế trên. Qua đó, hoạt động đầu tư, góp vốn giữa các công ty con trong cùng một nhóm được kiểm soát, bảo đảm nguồn vốn nhà nước từ công ty mẹ không bị thất thoát và việc sử dụng vốn nhà nước được thực hiện theo đúng quy định.

Thứ hai, pháp luật giải thích rõ doanh nghiệp có sở hữu ít nhất 65% vốn Nhà nước được hiểu là doanh nghiệp nhà nước do Nhà nước nắm giữ từ 65% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết trở lên. Tỷ lệ sở hữu này là căn cứ để xác định doanh nghiệp thuộc nhóm có mức độ chi phối đáng kể của Nhà nước về vốn và quyền quyết định các vấn đề của doanh nghiệp.

Thứ ba, liên quan đến vấn đề trách nhiệm của cơ quan quản lý công ty, pháp luật đã xác định Chủ tịch công ty, Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị của công ty bảo đảm tuân thủ đúng quy định về sở hữu chéo theo Luật Doanh nghiệp khi đề xuất, quyết định góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của công ty khác và cùng liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại xảy ra cho công ty khi vi phạm. Điều này đã cụ thể hóa trách nhiệm của những người quản lý trong việc kiểm soát các quyết định đầu tư, hạn chế tình trạng thực hiện giao dịch vi phạm các giới hạn về sở hữu chéo và tạo cơ sở xác định trách nhiệm bồi thường khi hành vi vi phạm gây thiệt hại cho công ty.

Đáng chú ý, pháp luật cũng ghi nhận rõ trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước khi cơ quan đăng ký kinh doanh phải từ chối đăng ký thay đổi thành viên, cổ đông công ty nếu trong quá trình thụ lý hồ sơ phát hiện việc góp vốn, mua cổ phần thành lập doanh nghiệp hoặc chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp liên quan vi phạm về sở hữu chéo và đầu tư chung trong nhóm công ty có vốn nhà nước với tỷ lệ cao. Điều này sẽ thiết lập cơ chế kiểm soát ngay từ những thủ tục đầu tiên trong trình tự đăng ký doanh nghiệp, ngăn chặn các giao dịch sở hữu chéo và đầu tư chung trong nhóm công ty có vốn nhà nước, giảm thiểu rủi ro cho các bên liên quan và bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật doanh nghiệp.

Tóm lại, việc pháp luật không cho phép sở hữu chéo và hạn chế đầu tư chung giữa các công ty con, đặc biệt trong nhóm mà công ty mẹ có từ 65% vốn Nhà nước trở lên, đã tạo nên một hành lang pháp lý chặt chẽ và toàn diện. Bằng cách làm rõ các hình thức vi phạm, quy trách nhiệm bồi thường đối với người quản lý và thiết lập cơ chế kiểm soát tiền kiểm ngay từ khâu đăng ký kinh doanh, pháp luật không chỉ bảo đảm tính minh bạch, an toàn cho cơ cấu vốn và quyền lợi của cổ đông nhỏ lẻ, mà còn nâng cao hiệu quả quản lý nguồn vốn của Nhà nước.

Trân trọng./.