Quyền và nghĩa vụ của Ban kiểm soát và trách nhiệm của Kiểm soát viên tại doanh nghiệp nhà nước được quy định như thế nào?
Quyền và nghĩa vụ của Ban kiểm soát và trách nhiệm của Kiểm soát viên tại doanh nghiệp nhà nước được quy định như thế nào?
Luật sư cho tôi hỏi: Hiện tôi đang đảm nhiệm chức vụ Kiểm soát viên tại một doanh nghiệp nhà nước, có nhiệm vụ giám sát hoạt động quản lý, điều hành và việc chấp hành pháp luật trong doanh nghiệp. Để thực hiện tốt vai trò của mình, tôi muốn tìm hiểu rõ phạm vi quyền hạn, nghĩa vụ của Ban kiểm soát cũng như trách nhiệm cá nhân của Kiểm soát viên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Vậy pháp luật hiện hành quy định như thế nào về quyền, nghĩa vụ của Ban kiểm soát và trách nhiệm của Kiểm soát viên tại doanh nghiệp nhà nước? Rất mong Luật sư giải đáp. Xin cảm ơn!
MỤC LỤC
1. Quyền của Ban kiểm soát tại doanh nghiệp nhà nước được quy định như thế nào?
2. Pháp luật quy định Ban kiểm soát tại doanh nghiệp nhà nước có những nghĩa vụ nào?
3. Kiểm soát viên có trách nhiệm nào theo quy định của pháp luật?
Trả lời:
1. Quyền của Ban kiểm soát tại doanh nghiệp nhà nước được quy định như thế nào?
Ban kiểm soát hoạt động độc lập với cơ quan quản lý doanh nghiệp, giữ vai trò giám sát hoạt động quản lý, điều hành và tuân thủ pháp luật. Quyền của Ban kiểm soát tại doanh nghiệp nhà nước được ghi nhận tại Điều 105 Luật Doanh nghiệp năm 2020, cụ thể như sau:
"Điều 105. Quyền của Ban kiểm soát
1. Tham gia các cuộc họp Hội đồng thành viên, các cuộc tham vấn, trao đổi chính thức và không chính thức của cơ quan đại diện chủ sở hữu với Hội đồng thành viên; chất vấn Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc về kế hoạch, dự án, chương trình đầu tư phát triển và các quyết định khác trong quản lý, điều hành công ty.
2. Xem xét sổ sách kế toán, báo cáo, hợp đồng, giao dịch và tài liệu khác của công ty; kiểm tra công việc quản lý, điều hành của Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc khi xét thấy cần thiết hoặc theo yêu cầu của cơ quan đại diện chủ sở hữu.
3. Yêu cầu Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Giám đốc, Phó giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc, Kế toán trưởng và người quản lý khác báo cáo, cung cấp thông tin trong phạm vi quản lý và hoạt động đầu tư, kinh doanh của công ty.
4. Yêu cầu người quản lý công ty báo cáo về thực trạng tài chính và kết quả kinh doanh của công ty con khi xét thấy cần thiết để thực hiện các nhiệm vụ theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty.
5. Đề nghị cơ quan đại diện chủ sở hữu thành lập đơn vị thực hiện nhiệm vụ kiểm toán để tham mưu và trực tiếp hỗ trợ Ban kiểm soát thực hiện quyền và nghĩa vụ được giao.
6. Quyền khác quy định tại Điều lệ công ty."
Theo đó, pháp luật trao cho Ban kiểm soát tại doanh nghiệp nhà nước những quyền sau:
Thứ nhất, Ban kiểm soát được tham gia các cuộc họp Hội đồng thành viên, các cuộc tham vấn, trao đổi chính thức và không chính thức của cơ quan đại diện chủ sở hữu với Hội đồng thành viên. Ngoài ra, Ban kiểm soát được chất vấn Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc về kế hoạch, dự án, chương trình đầu tư phát triển và các quyết định khác trong quản lý, điều hành công ty. Có thể thấy, pháp luật cho phép Ban kiểm soát tiếp cận các chủ trương, dự án đầu tư lớn và các quyết định chiến lược ngay từ giai đoạn lên ý tưởng và thảo luận để thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát từ đầu. Hơn nữa, quyền được chất vấn đối với Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc sẽ buộc họ phải thận trọng trong quá trình ra quyết định. Mặt khác, Ban kiểm soát có thể làm rõ cơ sở của các quyết định, đánh giá mức độ phù hợp với mục tiêu phát triển và nhận diện được những vấn đề có nguy cơ ảnh hưởng đến lợi ích của doanh nghiệp.
Thứ hai, Ban kiểm soát có quyền xem xét sổ sách kế toán, báo cáo, hợp đồng, giao dịch và tài liệu khác của công ty, cũng như kiểm tra công việc quản lý, điều hành của Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc khi xét thấy cần thiết hoặc theo yêu cầu của cơ quan đại diện chủ sở hữu. Quyền này sẽ giúp Ban kiểm soát có cơ sở phát hiện sai sót, dấu hiệu vi phạm hoặc những bất cập trong công tác quản lý tài chính, thực hiện hợp đồng và triển khai các quyết định kinh doanh. Đây cũng là căn cứ để đưa ra nhận định và kiến nghị xử lý dựa trên thông tin, tài liệu cụ thể, thay vì chỉ dựa vào báo cáo từ bộ máy điều hành.
Thứ ba, Ban kiểm soát được yêu cầu Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Giám đốc, Phó giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc, Kế toán trưởng và người quản lý khác báo cáo, cung cấp thông tin trong phạm vi quản lý và hoạt động đầu tư, kinh doanh của công ty. Thông qua quyền này, Ban kiểm soát được tiếp cận thông tin từ những cá nhân trực tiếp tham gia quản lý, điều hành hoặc phụ trách các lĩnh vực hoạt động cụ thể. Nhờ vậy, Ban kiểm soát có thể làm rõ những vấn đề phát sinh, đối chiếu thông tin giữa các bộ phận, đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ của người quản lý và qua đó có điều kiện phát hiện sớm những dấu hiệu bất thường để kịp thời kiến nghị biện pháp xử lý.
Thứ tư, Ban kiểm soát có quyền yêu cầu người quản lý công ty báo cáo về thực trạng tài chính và kết quả kinh doanh của công ty con khi xét thấy cần thiết để thực hiện các nhiệm vụ theo luật định và Điều lệ công ty. Quyền này sẽ giúp mở rộng phạm vi kiểm soát rủi ro có thể tác động đến hoạt động kinh doanh, tài chính và lợi ích của công ty mẹ. Đây là cơ sở để xem xét hiệu quả đầu tư, đánh giá các vấn đề cần lưu ý trong quan hệ giữa công ty mẹ và công ty con, đồng thời kiến nghị biện pháp xử lý phù hợp khi phát hiện dấu hiệu bất thường.
Thứ năm, Ban kiểm soát được đề nghị cơ quan đại diện chủ sở hữu thành lập đơn vị thực hiện nhiệm vụ kiểm toán để tham mưu và trực tiếp hỗ trợ Ban kiểm soát thực hiện quyền và nghĩa vụ được giao. Vì số lượng Kiểm soát viên tại mỗi doanh nghiệp chỉ giới hạn từ 01 đến 05 thành viên nên trong một số trường hợp khối lượng công việc lớn và phức tạp, Ban kiểm soát có thể xảy ra thiếu sót trong việc thực hiện nhiệm vụ. Việc được đề nghị thành lập bộ phận kiểm toán chuyên trách giúp bổ sung nguồn lực có chuyên môn sâu trong lĩnh vực kiểm toán, phục vụ tốt hơn việc kiểm tra, giám sát các hoạt động kinh doanh hoặc dự án có quy mô lớn, phức tạp.
Ngoài các quyền được pháp luật ghi nhận như trên, Điều lệ công ty có thể trao cho Ban kiểm soát những quyền hạn khác để linh hoạt với tình hình thực tế tại doanh nghiệp. Đồng thời, đây là cơ sở để xác định rõ phạm vi quyền hạn của Ban kiểm soát trong nội bộ công ty, hỗ trợ việc phối hợp với các bộ phận liên quan và nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ. Các quyền được bổ sung vẫn cần phù hợp với pháp luật hiện hành.
Như vậy, pháp luật trao cho Ban kiểm soát các công cụ cần thiết để tiếp cận thông tin, kiểm tra hoạt động quản lý, yêu cầu giải trình và đề xuất hỗ trợ chuyên môn. Việc thực hiện hiệu quả những quyền này góp phần nâng cao tính độc lập, chủ động của hoạt động giám sát, tăng cường trách nhiệm giải trình của người quản lý và phòng ngừa rủi ro trong hoạt động đầu tư, kinh doanh. Qua đó, bảo vệ lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp và góp phần bảo đảm việc quản lý, sử dụng vốn nhà nước được thực hiện minh bạch, hiệu quả.
2. Pháp luật quy định Ban kiểm soát tại doanh nghiệp nhà nước có những nghĩa vụ nào?
Bên cạnh những quyền hạn được trao, Ban kiểm soát tại doanh nghiệp nhà nước phải thực hiện những nghĩa vụ tại Điều 104 Luật Doanh nghiệp năm 2020 như sau:
"Điều 104. Nghĩa vụ của Ban kiểm soát
1. Ban kiểm soát có nghĩa vụ sau đây:
a) Giám sát việc tổ chức thực hiện chiến lược phát triển, kế hoạch kinh doanh;
b) Giám sát, đánh giá thực trạng hoạt động kinh doanh, thực trạng tài chính của công ty;
c) Giám sát và đánh giá việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của thành viên Hội đồng thành viên và Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty;
d) Giám sát, đánh giá hiệu lực và mức độ tuân thủ quy chế kiểm toán nội bộ, quy chế quản lý và phòng ngừa rủi ro, quy chế báo cáo, quy chế quản trị nội bộ khác của công ty;
đ) Giám sát tính hợp pháp, tính hệ thống và trung thực trong công tác kế toán, sổ sách kế toán, trong nội dung báo cáo tài chính, các phụ lục và tài liệu liên quan;
e) Giám sát hợp đồng, giao dịch của công ty với các bên có liên quan;
g) Giám sát thực hiện dự án đầu tư lớn; hợp đồng, giao dịch mua, bán; hợp đồng, giao dịch kinh doanh khác có quy mô lớn; hợp đồng, giao dịch kinh doanh bất thường của công ty;
h) Lập và gửi báo cáo đánh giá, kiến nghị về nội dung quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e và g khoản này cho cơ quan đại diện chủ sở hữu và Hội đồng thành viên;
i) Thực hiện nghĩa vụ khác theo yêu cầu của cơ quan đại diện chủ sở hữu, quy định tại Điều lệ công ty.
2. Tiền lương, thù lao, thưởng và lợi ích khác của Kiểm soát viên do cơ quan đại diện chủ sở hữu quyết định và chi trả.
3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này."
Theo đó, pháp luật yêu cầu Ban Kiểm soát phải thực hiện những nghĩa vụ sau:
- Giám sát việc tổ chức thực hiện chiến lược phát triển, kế hoạch kinh doanh. Điều này sẽ giúp phát hiện những hạn chế trong quá trình triển khai, từ đó kiến nghị biện pháp khắc phục và điều chỉnh khi cần thiết;
- Giám sát, đánh giá thực trạng hoạt động kinh doanh, thực trạng tài chính của công ty. Đây là cơ sở để phát hiện sớm các rủi ro tài chính, tình trạng sử dụng nguồn lực kém hiệu quả hoặc những vấn đề cần được chấn chỉnh trong công tác quản lý. Đối với doanh nghiệp nhà nước, nghĩa vụ này còn góp phần tăng cường giám sát việc sử dụng vốn, tài sản nhà nước và hạn chế nguy cơ thất thoát, lãng phí;
- Giám sát và đánh giá việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của thành viên Hội đồng thành viên và Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty. Nội dung giám sát này góp phần kiểm soát việc thực hiện thẩm quyền, hạn chế tình trạng lạm quyền, thiếu trách nhiệm hoặc đưa ra quyết định gây ảnh hưởng bất lợi đến doanh nghiệp. Đồng thời, đây là cơ sở để phát hiện, kiến nghị xử lý những vi phạm trong hoạt động quản lý, qua đó nâng cao trách nhiệm giải trình của người quản lý và bảo vệ lợi ích của Nhà nước, công ty;
- Giám sát, đánh giá hiệu lực và mức độ tuân thủ quy chế kiểm toán nội bộ, quy chế quản lý và phòng ngừa rủi ro, quy chế báo cáo, quy chế quản trị nội bộ khác của công ty. Việc giám sát không chỉ dừng lại ở việc kiểm tra các quy chế có được tuân thủ hay không, mà còn hướng đến đánh giá khả năng phát huy hiệu quả của những quy chế này trong thực tiễn. Qua đó, doanh nghiệp có thể phát hiện những bất cập trong quá trình hoạt động, kịp thời hoàn thiện quy trình quản lý và tăng cường khả năng phòng ngừa rủi ro;
- Giám sát tính hợp pháp, tính hệ thống và trung thực trong công tác kế toán, sổ sách kế toán, trong nội dung báo cáo tài chính, các phụ lục và tài liệu liên quan. Việc thực hiện nghĩa vụ này sẽ giúp Ban kiểm soát phát hiện ra những sai sót, bất thường hoặc dấu hiệu thiếu minh bạch trong việc ghi nhận, phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp, qua đó, góp phần nâng cao độ tin cậy của thông tin phục vụ công tác quản lý, hỗ trợ cơ quan đại diện chủ sở hữu và các chủ thể có liên quan đánh giá chính xác hơn tình hình hoạt động của công ty;
- Giám sát hợp đồng, giao dịch của công ty với các bên có liên quan. Hoạt động giám sát này góp phần bảo đảm các giao dịch được xem xét trên cơ sở lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp và phù hợp với các yêu cầu pháp luật có liên quan. Đặc biệt, đối với doanh nghiệp nhà nước, việc kiểm soát các giao dịch với bên liên quan còn giúp hạn chế nguy cơ sử dụng vốn, tài sản nhà nước không đúng mục đích hoặc gây thiệt hại cho doanh nghiệp;
- Giám sát thực hiện dự án đầu tư lớn, hợp đồng, giao dịch mua bán, hợp đồng, giao dịch kinh doanh khác có quy mô lớn, hợp đồng, giao dịch kinh doanh bất thường của công ty. Những dự án, hợp đồng, giao dịch này thường ảnh hưởng đáng kể đến tình hình tài chính, hiệu quả kinh doanh và mức độ an toàn của nguồn vốn doanh nghiệp. Việc giám sát tạo điều kiện phát hiện sớm những rủi ro trong quá trình thực hiện, những dấu hiệu bất hợp lý hoặc nguy cơ vi phạm pháp luật, từ đó kiến nghị biện pháp xử lý phù hợp;
- Lập và gửi báo cáo đánh giá, kiến nghị về nội dung việc thực hiện các nghĩa vụ nêu trên cho cơ quan đại diện chủ sở hữu và Hội đồng thành viên. Điều này bảo đảm kết quả giám sát được ghi nhận, truyền đạt đến các chủ thể có thẩm quyền, thay vì chỉ dừng lại ở việc kiểm tra và phát hiện vấn đề. Đồng thời, các báo cáo và kiến nghị tạo cơ sở để cơ quan đại diện chủ sở hữu, Hội đồng thành viên xem xét thực trạng doanh nghiệp, yêu cầu khắc phục hạn chế và đưa ra quyết định quản lý phù hợp;
- Ngoài những nghĩa vụ trên, Ban kiểm soát phải thực hiện nghĩa vụ khác theo yêu cầu của cơ quan đại diện chủ sở hữu, quy định tại Điều lệ công ty. Nội dung này tạo cơ sở để doanh nghiệp bổ sung nhiệm vụ giám sát phù hợp với tình hình thực tế tại doanh nghiệp. Qua đó, hoạt động của Ban kiểm soát có thể đáp ứng linh hoạt hơn những vấn đề phát sinh trong doanh nghiệp.
Tiền lương, thù lao, thưởng và lợi ích khác của Kiểm soát viên do cơ quan đại diện chủ sở hữu quyết định và chi trả. Việc cơ quan đại diện chủ sở hữu trực tiếp quyết định mức lương, thù lao, tiền thưởng và các đãi ngộ khác giúp Ban kiểm soát, Kiểm soát viên không bị phụ thuộc tài chính vào doanh nghiệp. Nhờ vậy, Ban kiểm soát, Kiểm soát viên có thể thực hiện tốt nhất nhiệm vụ kiểm tra, giám sát hoạt động quản lý, điều hành doanh nghiệp.
Tóm lại, nghĩa vụ của Ban kiểm soát không chỉ giới hạn ở việc theo dõi hoạt động quản lý, điều hành mà còn bao quát cả tình hình tài chính, việc tuân thủ quy chế nội bộ và tính minh bạch trong các giao dịch của doanh nghiệp. Việc kết hợp hoạt động giám sát với cơ chế báo cáo, kiến nghị giúp những bất cập và rủi ro được phản ánh cơ quan đại diện chủ sở hữu để xem xét, xử lý kịp thời. Đặc biệt, việc cơ quan đại diện chủ sở hữu quyết định và chi trả tiền lương, thù lao, thưởng và lợi ích khác cho Kiểm soát viên góp phần củng cố tính độc lập trong thực hiện nhiệm vụ, hạn chế nguy cơ chi phối từ phía doanh nghiệp.
3. Kiểm soát viên có trách nhiệm nào theo quy định của pháp luật?
Kiểm soát viên giữ vai trò giám sát hoạt động quản lý, điều hành và góp phần bảo vệ lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp. Để bảo đảm việc thực hiện nhiệm vụ được tiến hành trung thực, khách quan và đúng pháp luật, trách nhiệm cụ thể của Kiểm soát viên được ghi nhận tại Điều 107 Luật Doanh nghiệp năm 2020 như sau:
"Điều 107. Trách nhiệm của Kiểm soát viên
1. Tuân thủ pháp luật, Điều lệ công ty, quyết định của cơ quan đại diện chủ sở hữu và đạo đức nghề nghiệp trong thực hiện quyền và nghĩa vụ của Kiểm soát viên.
2. Thực hiện quyền và nghĩa vụ được giao một cách trung thực, cẩn trọng, tốt nhất để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, công ty và lợi ích hợp pháp của các bên tại công ty.
3. Trung thành với lợi ích của Nhà nước và công ty; không lạm dụng địa vị, chức vụ và sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh, tài sản khác của công ty để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác.
4. Trường hợp vi phạm trách nhiệm quy định tại Điều này mà gây thiệt hại cho công ty thì Kiểm soát viên phải chịu trách nhiệm cá nhân hoặc liên đới bồi thường thiệt hại đó; tùy theo tính chất, mức độ vi phạm và thiệt hại còn có thể bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật; hoàn trả lại cho công ty mọi thu nhập và lợi ích có được do vi phạm trách nhiệm quy định tại Điều này.
5. Báo cáo kịp thời cho cơ quan đại diện chủ sở hữu, đồng thời yêu cầu Kiểm soát viên chấm dứt hành vi vi phạm và khắc phục hậu quả trong trường hợp phát hiện Kiểm soát viên đó vi phạm quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm được giao.
6. Báo cáo kịp thời cho cơ quan đại diện chủ sở hữu công ty, Kiểm soát viên khác và cá nhân có liên quan, đồng thời yêu cầu cá nhân đó chấm dứt hành vi vi phạm và khắc phục hậu quả trong trường hợp sau đây:
a) Phát hiện có thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý khác làm trái quy định về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của họ hoặc có nguy cơ làm trái quy định đó;
b) Phát hiện hành vi vi phạm pháp luật, trái quy định Điều lệ công ty hoặc quy chế quản trị nội bộ công ty.
7. Trách nhiệm khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty."
Theo đó, thứ nhất, Kiểm soát viên phải tuân thủ pháp luật, Điều lệ công ty, quyết định của cơ quan đại diện chủ sở hữu và đạo đức nghề nghiệp trong thực hiện quyền và nghĩa vụ của Kiểm soát viên. Đây là cơ sở bảo đảm hoạt động kiểm soát được thực hiện đúng thẩm quyền, đúng nguyên tắc và phù hợp với yêu cầu quản lý doanh nghiệp. Việc tuân thủ những chuẩn mực này còn góp phần duy trì tính khách quan trong quá trình giám sát hoạt động quản lý, điều hành doanh nghiệp.
Thứ hai, Kiểm soát viên thực hiện quyền và nghĩa vụ được giao một cách trung thực, cẩn trọng, tốt nhất để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, công ty và lợi ích hợp pháp của các bên tại công ty. Điều này đòi hỏi Kiểm soát viên phải xem xét thông tin cẩn trọng, đánh giá vấn đề và đưa ra ý kiến trên cơ sở phù hợp với nhiệm vụ được giao. Nhờ vậy, hoạt động kiểm soát có thể phát huy hiệu quả trong việc phát hiện những bất cập trong quản lý, sử dụng vốn và tài sản nhà nước, góp phần bảo vệ lợi ích của Nhà nước và doanh nghiệp.
Thứ ba, Kiểm soát viên có trách nhiệm trung thành với lợi ích của Nhà nước và công ty, đồng thời, không lạm dụng địa vị, chức vụ và sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh, tài sản khác của công ty để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác. Trách nhiệm này góp phần phòng ngừa xung đột lợi ích, bảo vệ thông tin nội bộ và hạn chế hành vi trục lợi từ vị trí kiểm soát. Đây cũng là cơ sở duy trì sự liêm chính và củng cố niềm tin vào tính khách quan của hoạt động giám sát trong doanh nghiệp nhà nước.
Thứ tư, trong trường hợp vi phạm trách nhiệm của Kiểm soát viên theo Luật Doanh nghiệp năm 2020 mà gây thiệt hại cho công ty, Kiểm soát viên phải chịu trách nhiệm cá nhân hoặc liên đới bồi thường thiệt hại đó. Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm và thiệt hại, Kiểm soát viên còn có thể bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo luật định. Ngoài ra, Kiểm soát viên vi phạm phải hoàn trả lại cho công ty mọi thu nhập và lợi ích có được do vi phạm trách nhiệm của Kiểm soát viên theo Điều 104 Luật Doanh nghiệp năm 2020. Cơ chế này xác định rõ hậu quả pháp lý mà Kiểm soát viên phải gánh chịu khi không thực hiện đúng trách nhiệm, qua đó nâng cao ý thức tuân thủ và ngăn ngừa hành vi lạm dụng chức vụ. Việc bồi thường và hoàn trả lợi ích còn góp phần khắc phục hậu quả kinh tế, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp.
Thứ năm, khi phát hiện Kiểm soát viên khác có hành vi vi phạm quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm được giao, Kiểm soát viên phải báo cáo kịp thời cho cơ quan đại diện chủ sở hữu và yêu cầu Kiểm soát viên đó chấm dứt hành vi vi phạm cũng như khắc phục hậu quả. Có thể thấy, yêu cầu kiểm tra, giám sát không chỉ hướng đến hoạt động quản lý, điều hành doanh nghiệp mà còn bao gồm chính hoạt động của các chủ thể thực hiện nhiệm vụ kiểm soát. Nhờ đó, những vi phạm trong nội bộ Ban kiểm soát có cơ hội được phát hiện và xử lý kịp thời, hạn chế tình trạng bao che hoặc bỏ qua sai phạm, đồng thời góp phần bảo đảm tính liêm chính của cơ chế giám sát.
Thứ sáu, trong một số trường hợp, Kiểm soát viên phải báo cáo kịp thời cho cơ quan đại diện chủ sở hữu công ty, Kiểm soát viên khác và cá nhân có liên quan, đồng thời yêu cầu cá nhân đó chấm dứt hành vi vi phạm và khắc phục hậu quả. Cụ thể các trường hợp đó như sau:
- Phát hiện có thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý khác làm trái quy định về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của họ hoặc có nguy cơ làm trái quy định đó;
- Phát hiện hành vi vi phạm pháp luật, trái quy định Điều lệ công ty hoặc quy chế quản trị nội bộ công ty.
Việc yêu cầu báo cáo ngay cả khi phát hiện nguy cơ vi phạm cho thấy hoạt động kiểm soát không chỉ nhằm xử lý những sai phạm đã xảy ra mà còn hướng đến phòng ngừa rủi ro từ sớm. Cơ chế này góp phần tăng cường giám sát đối với người quản lý, hạn chế hành vi vượt quá thẩm quyền hoặc trái pháp luật, đồng thời bảo vệ vốn, tài sản và hoạt động ổn định của doanh nghiệp.
Ngoài ra, Kiểm soát viên thực hiện những trách nhiệm khác theo Luật định và Điều lệ công ty. Điều này tạo cơ sở để doanh nghiệp bổ sung các trách nhiệm cụ thể phù hợp với tình hình thực tế.
Như vậy, pháp luật xác lập những yêu cầu cơ bản về tính tuân thủ, trung thực, cẩn trọng và liêm chính trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của Kiểm soát viên. Không chỉ chịu trách nhiệm đối với hành vi của mình, Kiểm soát viên còn phải chủ động phát hiện, báo cáo và yêu cầu khắc phục những vi phạm trong hoạt động quản lý cũng như trong chính cơ chế kiểm soát. Những yêu cầu này góp phần nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường trách nhiệm giải trình, phòng ngừa xung đột lợi ích và bảo vệ vốn, tài sản nhà nước tại doanh nghiệp.
Trân trọng./.